Hân hạnh đón tiếp

2 khách và 0 thành viên

MỜI BẠN DÙNG TRÀ

Hôm nay là....

12_01

Lick cho ăn dùm nha!

Ảnh ngẫu nhiên

GUI_NGUOI_TOI_YEU2.swf 270.jpg Picture3.jpg Picture2.jpg Picture1.jpg Picture1_500_06.jpg Bai_thi_so_1__lop_3.flv Bai_thi_so_2_lop_2.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_thi_so_1_lop_2.flv Bai_lam_so_1.flv Vochanh3.jpg D3.jpg D2.jpg Deu.jpg Chanh.jpg Son_dau.jpg Sd.jpg 0.jpg

Tự soi tâm mỗi sáng

1. Nhịn đời để tấm thân yên- 2. Nhịn sự hơn thua khỏi luỵ phiền- 3. Nhịn kẻ hung hăn lòng độ lượng- 4. Nhịn tâm háo thắng cõi thần tiên- 5. Nhịn cha nhịn mẹ con hiếu thảo- 6. Nhịn vợ nhịn chồng gia đình ấm- 7. Nhịn anh nhịn chị ,thêm hoà thuận - 8. Nhịn xóm láng giềng nghĩa thân giao.

Tài nguyên dạy học

Góc riêng

Quà của thâỳ Hùng

Quốc hoa

Kỉ niệm bạn tặng

Sống

Qùa thâỳ Th. Dương

TUỔI THƠ

picture1

Giải trí

Đồng hồ trái đất

Thời gian trôi

ĐỒNG HỒ HOA SEN

Chị Vân tặng

Msmyen

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Vọc

    LỊCH

    Gốc > Tham khảo kiểu bài viết > ẩm thực >

    vài món ngon HÀ NỘI

     


    1/Bánh đúc, món ăn dân dã khó quên  
         
     

    Cuộc sống ngày càng bận rộn, nhiều người ăn Hamburger thay cơm thì việc quên một số món ăn dân dã truyền thống như đánh đúc cũng hoàn toàn bình thường. Nhưng trong nỗi nhớ của người Hà Nội, bánh đúc vẫn là một món ăn rất gần gũi và thân quen. Chẳng trách dân gian có câu “Bánh đúc, cá kho bán bò trả nợ”.

    Giới trẻ nghe đến bánh đúc cứ ngỡ nó là món nhà quê nhưng trong Miếng ngon Hà Nội của Vũ Bằng thì bánh đúc được nhà văn dành cho những lời tán tụng hết mực. Mà Vũ Bằng là dân Hà Nội sành ăn đấy thôi. Những người lớn tuổi hơn một chút thì nhớ dư vị bánh đúc trong tiếc nuối “Giờ khó kiếm được bánh đúc mà ăn”.

    Bánh đúc có lẽ là món ăn có nguyên liệu đơn giản nhất. Không thấy có chuyện tích nào về bánh đúc nhưng chắc chắn loại bánh được làm từ hạt gạo với cung cách hết sức giản đơn này có từ rất sớm. Bao đời qua vẫn không ai cách tân hình dáng, cách làm, cách ăn bánh đúc. Tất cả vẫn cứ như ngàn xưa, mộc mạc, giản dị. Mà cũng khó có thể kể ra loại bánh nào rẻ hơn bánh đúc. Còn về độ mát thì phải dành lời cho người sành ăn như Vũ Bằng: “Bánh đúc mát cái mát của Đông Phương, thâm trầm và hiền lành chứ không rực rỡ và kêu gào ầm ĩ”.

    Cái loại bánh đơn giản là thế nhưng dưới gu ẩm thực đa dạng của người Hà Nội thì lại có rất nhiều cách để thưởng thức. Phổ biến nhất là ăn bánh đúc với nộm, ăn bánh đúc với nham, bánh đúc chấm tương và bánh đúc hành mỡ. Mỗi loại lại có một cái thú riêng mà ai đã một lần ăn thì khó lòng quên.

    Ai thích thưởng thức trọn vẹn cái mát “dịu dàng, thơm tho, bát ngát như hít hà cả hương thơm của một vườn rau xanh vào lòng” thì hãy chọn cho mình bánh đúc ăn kèm với nộm. Miếng bánh bóng, giòn lại thoang thoảng mùi thơm của giá trần, của vừng rang, của chanh cốm thì còn gì bằng. Thêm một ít rau ghém, một tí chuối non thái nhỏ để món ăn phảng phất mùi ngan ngát. Mấy thứ nguyên liệu đồng quê đơn giản vậy thôi mà đã làm thành một món ăn say lòng người thành phố. Người Hà Nội đặc biệt thích món bánh đúc nộm này.

    Bánh đúc nham cũng gần giống bánh đúc nộm nhưng ngấy hơn một chút. Có khác là ở chỗ người ta thay giá trần bằng hoa chuối bao tử thái nhỏ, gia giảm thêm một tí mắm chưng. Án bánh đúc theo cách này lại được thưởng thức cái cảm giác nhẹ nhõm, lâng lâng.

    Bánh đúc mỡ hành được ăn kèm với đậu rán để nguội, chấm một thứ nước mắm chua dầm ớt.  Nếu thiếu đậu có thể thay bằng thịt quay hoặc chả lợn. Tuỳ theo sở thích từng người mà có thể ăn nóng hoặc nguội nhưng cái độ ngậy thì ăn kiểu gì vẫn cứ vẹn nguyên.

    Nhưng có lẽ được chuộng nhất là bánh đúc chấm tương. Món này vừa ngon lại vừa rẻ tiền, mà cũng thể hiện được rõ nhất cái nét chân quê mộc mạc của thứ quà bánh dân dã. Cứ một đĩa bánh đúc, một bát tương là ngồi xì xụp, thấy đời thật đơn giản. Ai thích ăn cay thì dầm thêm tí ớt cho nổi vị hoặc muốn đậm đà hơn thì thêm miếng đậu phụ nguội xé nhỏ. Đậu mềm, tương dịu ngọt, bánh đúc không mỡ màng nên dễ ăn và không ngán. Cái món quà ấy mà ăn vào một buổi trưa hè thì có khác gì người hiện đại uống một ly trà mát lạnh.

    Đến bây giờ, bánh đúc vẫn còn bán nhưng rất hiếm và có lẽ cái hương vị ngày nào của nó cũng không còn nguyên vẹn. Vậy nên món quà quê thơm ngon ấy mãi còn là những dư vị khó quên của một thời, một đời.

     
     

     

    (theo MonngonHanoi)

     

    2/Các món đặc sản từ khoai môn Bắc Kạn  
         
     

           Dù là món khâu nhục chế biến công phu, cầu kỳ cho những bữa tiệc; hay chỉ là bát canh xương nóng hổi trong bữa cơm thường ngày, khoai môn Bắc Kạn là món quà thiên nhiên dành riêng cho miền rừng núi này.

    Từ xưa đến nay, cuộc sống của người dân Bắc Kạn đã gắn liền với núi rừng. Rừng không chỉ mang lại giá trị kinh tế, giúp thay đổi đời sống người dân nơi đây, mà còn là nguồn cung cấp những đặc sản quý hiếm không nơi nào khác có được. Nhờ biết tìm tòi, tận dụng trong khai thác và chế biến, người Bắc Kạn đã tự tìm cho mình nhiều thứ đặc sản quý từ rừng. Cùng với rất nhiều những đặc sản khác, củ khoai môn từ lâu đã trở thành món quà đặc biệt của núi rừng Bắc Kạn.

    Khoai môn Bắc Kạn thường được gọi là khoai tàu. Tên gọi này bắt nguồn từ giống khoai môn Lệ Phố - Trung Quốc, được di thực sang Việt Nam từ lâu đời. Mặc dù bắt nguồn từ Trung Quốc, nhưng qua thời gian dài trồng trên đất rừng, dưới tác động của các yếu tố tự nhiên, thời tiết của địa phương, khoai môn Bắc Kạn đã trở thành món ăn đặc sản nhờ những hương vị đặc biệt. Bên trong lớp vỏ thô ráp màu nâu sẫm, còn lẫn mùi đất rừng là những thớ khoai trắng mịn, đan xen nhiều chấm nhỏ màu tím. Khoai môn nói chung có hàm lượng tinh bột cao, mang lại nhiều giá trị dinh dưỡng. Tuy nhiên, so với các giống khoai môn ở nhiều nơi khác, kể cả khoai Lệ Phố của Trung Quốc, khoai môn trồng ở Bắc Kạn có độ bở, vị bùi và hương thơm đặc trưng.

    Khi tiết trời miền núi cao bắt đầu bước vào những ngày thu se lạnh, cũng là lúc những món ăn đặc biệt được chế biến từ khoai môn có dịp được các bà nội trợ trổ tài. Khoai môn có thể chế biến thành nhiều món ăn đơn giản như canh khoai nấu xương hoặc khoai tẩm bột rán. Cầu kỳ hơn là món khâu nhục - món ăn đặc biệt trong các đám cưới hỏi của người dân nơi đây, đã trở nên nổi tiếng với nhiều du khách từng được thưởng thức.


    Món khâu nhục

    Để chế biến được món khâu nhục ngon, đúng hương vị của món ăn Bắc Kạn, người làm bếp phải chọn được loại khoai củ mập tròn, không bị sâu, to vừa phải, thái lát dày độ 1cm rồi rán qua cho cháy cạnh. Thịt lợn luộc chín tới, rán qua cho cháy cạnh; thái miếng to hơn lát khoai một chút để khi chín, miếng thịt co lại vừa bằng miếng khoai, ướp thịt với một hỗn hợp gia vị gồm bột ngũ vị hương, hạt tiêu, muối và đặc biệt phải có nước ngâm quả mắc mật trong vòng 1 giờ. Sau khi ướp, xếp xen một lát khoai, một lát thịt, đặt vào bát tô, phủ lên bằng một lớp áo gồm thịt nạc, nấm hương, mộc nhĩ băm nhỏ để tạo vị thơm. Đun cách thuỷ cho chín nhừ trong vòng 2 - 3 giờ là được. Món khâu nhục đạt tiêu chuẩn là thịt và khoai phải chín mềm, không bị nát; hương vị đậm đà, dậy mùi thơm của nấm hương, và mắc mật. Khi ăn, người ta phải gắp kèm một miếng thịt và một miếng khoai, ăn nóng kèm với cơm tẻ hoặc xôi, không chỉ vì khoai giúp làm giảm cảm giác ngấy của thịt mỡ, mà quan trọng hơn để cảm nhận hết vị ngon của món ăn.

    Khâu nhục Bắc Kạn chế biến kỳ công và đòi hỏi người nấu phải để hết tâm trí vào món ăn. Vì vậy khâu nhục không chỉ là món ăn đơn thuần, nó chính là tổng hòa những gì tinh hoa của đất trời và con người Bắc Kạn. Những ai đã từng được thưởng thức món khâu nhục một lần, đều bị quyến rũ bởi hương vị đậm đà khó tả.

    Ngoài món khâu nhục thường chỉ xuất hiện trong các bữa tiệc đặc biệt hoặc ở các nhà hàng, khoai môn Bắc Kạn còn được chế biến thành nhiều món ăn dân dã khác, trong đó có món canh khoai nấu xương. Khoai sau khi gọt vỏ không cắt vuông vức mà dùng dao tách thành từng miếng vừa ăn, rửa sạch và xóc với chút muối cho ngấm. Khi nấu, xào chín khoai với dầu ăn và gia vị, sau đó hầm với xương cho chín mềm. Trước khi ăn, thường rắc thêm chút lá mùi tàu thái nhỏ. Trong tiết trời mùa thu se lạnh, được quây quần bên mâm cơm gia đình, thưởng thức bát canh khoai nóng hổi, đậm đà vị ngọt của xương, sóng sánh vị thơm bùi của khoai môn với chút cay nồng của lá mùi tàu, chắc chắn sẽ làm ấm hơn tâm hồn những người xa quê.

    3/Bún Tứ Kỳ, đặc sản đất Hà thành

    Bún Tứ Kỳ, cái tên đã trở nên quen thuộc với nhiều thực khách sành ăn đất Hà thành. Mát dịu, dai, mềm, dẻo, thơm trong từng sợi bún, chỉ cần vậy thôi  cũng đủ để bún làng Tứ Kỳ khiến ai đó phải thèm thuồng, nhớ nhung…



           “Bún ngon, bún mát Tứ Kỳ
          Pháp Vân cua ốc đồn thì chẳng ngoa”

    Đến Tứ Kỳ vào một buổi chiều, tôi không khỏi sững sờ trước vẻ đẹp  yên bình của một ngôi làng vùng nội thành. Đường làng vắng vẻ hơn trước, ánh nắng  vàng hắt qua những tán lá vào những ngày đầu hè. Nhưng không vì thế mà không khí nhộn nhịp mua bán bún kém đi phần sôi động.

    Là ngôi làng có truyền thống về nghề làm bún lâu đời với những bí kíp riêng trong cách chế biến, từ lâu bún Tứ Kỳ được xem như một món ăn không thể thiếu với người Hà Nội. Sống ở làng Tứ Kỳ hẳn ai cũng quen thuộc với tiếng chày giã gạo, tiếng kêu của máy móc, tiếng nói râm ran trong đêm của những hộ gia đình theo nghề sản xuất bún.

    Nếu đã từng thưởng thức bún Tứ Kỳ cảm giác “ăn vào mát môi, trôi mát cổ” sẽ hấp dẫn mọi thực khách. Bún nơi đây được xem như món quà háp dẫn cho người Hà thành. Những sợi bún óng mượt, trắng bóng được biến tấu tạo ra biết bao món ngon nổi tiếng: bún chả, bún ốc, bún đậu mắm tôm, bún riêu… Mỗi món khi kết hợp với bún Tứ Kỳ lại có mùi vị khác nhau, song điều mà ai cũng nhận thấy đó chính là hương vị riêng của bún nơi đây không bao giờ mất đi.

    Bún Tứ Kỳ được làm từ gạo Hải Hậu - thứ gạo hạt nhỏ, đều hạt, trắng thơm… và việc chọn gạo là khâu quan trọng khi làm bún. Tuỳ vào thời tiết, gạo được ngâm với thời gian vừa đủ để tạo độ dẻo cho bún rồi ép khô gạo thành thứ bột mịn, mát tay. Vắt bún là khâu cuối cùng đòi hỏi sự thành thạo từ người sản xuất. Nồi nước sôi già đặt trên bếp than rực lửa vắt mạnh tay cho những dòng bún chảy từng dòng xuống nồi nước rồi lấy tay khuấy đều. Khi bún chín vớt ra và dội gáo nước lạnh vào bún để mình bún được săn chắc và không bị dính. Có lẽ do được người làng Tứ Kì tỉ mỉ, cẩn thận trong từng công đoạn nên bún nơi đây chan chứa nhiều hương vị ngọt ngào đến thế.

    Bún Tứ Kỳ đựơc vắt theo rất nhiều kiểu dáng khác nhau phù hợp với mỗi món ăn. Kiểu bún nắm vắt tròn ăn kèm với chả, nem hay ăn cùng đậu mắm tôm. Bún rối dùng để ăn cùng những món canh nóng như: riêu cua, canh xương… Mỗi cân bún Tứ Kỳ hiện nay khoảng 7000 đồng/kg, giá gốc xuất buôn khoảng 5000 đồng/kg. Giá cả hợp lý, đa dạng kiểu dáng, hưong vị, màu sắc trong bún… tất cả làm nên tiếng tăm cho một làng nghề truyền thống.

    Hàng năm, cứ vào rằm tháng 2, lễ hội thờ ông tổ nghề bún trong làng lại diễn ra nhằm tưởng nhớ cha ông đi trước, những người đã truyền lại cho con cháu nghề làm bún nổi tiếng này. Đây cũng là dịp để các nghệ nhân làm bún trong làng hay những người nơi khác đến chia sẻ kinh nghiệm quý báu trong việc sản xuất bún.

    Yêu nghề, yêu những gì cha ông đã để lại bún Tứ Kỳ ngày càng có tiếng vang và chiếm ưu thế so với những loại bún khác. Những sợi bún dẻo, mịn, trắng bóng là niềm tự hào cho những người con làng nghề nơi đây.

    4/Nhớ lại một thời nước lọ cơm niêu

     Gọi là nước lọ cơm niêu cho có vẻ “thương cảm” một chút. Khách trả cho bữa cơm này mất 7 hào, trong khi một đĩa cơm rang thập cẩm ở quán ăn Mỹ Kinh hoặc Đông Hưng Viên chỉ có 3 hào.

    Vào thập niên 40, ở Hà Nội có ba cơ sở bán nước lọ cơm niêu. Một ở Phố Hàng Giày, một ở Hàng Giấy. Nhưng đáng kể nhất là trên Phố Đinh Liệt, nay ở vào khoảng gần phía sau Nhà hát kịch Hà Nội. Đó là một cái nhà kho bỏ hoang, ánh sáng lờ mờ. Cửa hàng luộm thuộm, chẳng có biển đề, cũng chẳng có quảng cáo. Khách ra, vào lầm lỳ chẳng nói năng gì. Khách ăn chỉ cần đưa vào 7 hào rồi lấy ra một suất nước lọ cơm niêu đặt trên một cái mẹt đan bằng tre, có đường kính chừng 20cm. Khách cầm lấy cái mẹt, tự tìm lấy một mảnh chiếu nhỏ hoặc một cái đòn ngồi rồi ra ngồi một mình ở một góc hay chỗ nào đó tùy ý. Suất ăn trên mẹt gồm có một niêu cơm nhỏ, một chiếc đũa cả ngắn, một đôi đũa nhỏ và ngắn, kiểu đũa ăn rượu nếp và bốn cái chai nhỏ có sức chứa chừng 20ml và được bịt kín bằng chiếc nút bấc.

    Trong niêu nhỏ có hai bát cơm được thổi sẵn trong một nồi to. Cơm được đong vào niêu, ở giữa là các thức ăn gồm: Một miếng thịt bò, một miếng thịt gà có da vàng, một miếng thịt lợn rán có đủ cả bì, mỡ và nạc, một miếng gan xào, một dúm trứng cáy hoặc tôm nõn, hai cái nấm, một cánh mộc nhĩ,… Tất cả được rưới lên một chút nước đậm có hồ tiêu. Cơm được thổi bằng gạo tám thơm và tám xoan. Mỗi loại gạo chiếm một nửa.

    Gạo tám thơm có vị thơm đậm đà, còn gạo tám xoan lại có vị thơm sắc sảo. Cơm gói các món ăn ở giữa. Chiếc niêu được đệm một tờ giấy báo rồi được nắp vung đậy lèn cho kín và được hâm nóng cách thủy.

    Bốn chiếc chai nhỏ đặt trên mẹt đựng bốn thứ phụ gia cho bữa ăn. Chúng gồm: Một chai nhỏ nước canh như kiểu nước xuýt, một chai nhỏ nước mắm cà cuống, một chai nhỏ đựng rượu vang và một chai nhỏ có những hai ba ngụm nước trà.

    Như vậy là đủ mùi vị cho một bữa ăn đối với một kẻ giang hồ, kẻ độc thân, kẻ đang có điều gì phiền muộn hay cho một kẻ lãng mạn, muốn cái điều: “Một mình làm cả cuộc chia ly”. Lại đáp ứng được cái thưởng thức mùi vị cô đơn, muốn được thỏa mãn trí tò mò, lập dị…

    Khách ăn cầm lấy chiếc đũa cả ngắn đập vào cái niêu đỏ au, mới toanh do Làng Thổ Hà sản xuất làm vang lên một âm thanh “bốp”. Chiếc niêu vỡ ra, bữa ăn được bắt đầu. Khách ăn thật thoải mái, sung sướng được có cái thú tự tay đập phá một cái gì đó làm vui. Cũng như cái cách thức ở bên phương Tây mở chai sâm banh, đập tan một cái cốc trong bữa tiệc lấy may. Hoặc như khi một con tàu hạ thủy, người thuyền trưởng được cái quyền ưu tiên là đập vỡ một chai sâm banh…

    Ăn uống xong, khách ăn chỉ lẳng lặng ra đi, phủ ống quần, mục thị vô nhân, ra ngoài đường nhập vào phố xá bụi bặm và ồn ào. Thực ra, gọi là nước lọ cơm niêu cho nó có vẻ “thương cảm” một chút. Khách trả cho bữa cơm này mất 7 hào, trong khi một đĩa cơm rang thập cẩm gọi là cơm Hoa Kỳ ăn no được ở quán ăn Mỹ Kinh hoặc Đông Hưng Viên tại Hàng Buồm chỉ phải trả có 3 hào.

    Trong một thời gian ngắn, nước lọ cơm niêu đã trở thành một cái mốt. Mọi người đánh tiếng nhau, mách nhau, đưa nhau đi ăn. Một số nhà văn, nhà báo cũng rủ nhau đi thưởng thức mỗi khi lĩnh được nhuận bút.

    Đã là mốt, mà nhất là lại là mốt ẩm thực nên nó luôn luôn thay đổi và nhõng nhẽo. Đến gần cuối năm 1940, cái mốt này cũng bị nhạt dần rồi đi vào quên lãng.

    Tuy vậy, “nước lọ cơm niêu” cũng khá đặc sắc. Nó cũng ghi được vài dòng khiêm tốn trong văn hóa ẩm thực của chúng ta.


    Nhắn tin cho tác giả
    Trần Công Thanh @ 21:05 23/10/2010
    Số lượt xem: 194
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Thông tin các thành viên

    174201210152147
    Đ
    i
    T
    ì
    m
    T
    r
    i
    T
    h
    c

    Sinh nhật thành viên và Web nhóm MAE