Hân hạnh đón tiếp

2 khách và 0 thành viên

MỜI BẠN DÙNG TRÀ

Hôm nay là....

12_01

Lick cho ăn dùm nha!

Ảnh ngẫu nhiên

GUI_NGUOI_TOI_YEU2.swf 270.jpg Picture3.jpg Picture2.jpg Picture1.jpg Picture1_500_06.jpg Bai_thi_so_1__lop_3.flv Bai_thi_so_2_lop_2.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_thi_so_1_lop_2.flv Bai_lam_so_1.flv Vochanh3.jpg D3.jpg D2.jpg Deu.jpg Chanh.jpg Son_dau.jpg Sd.jpg 0.jpg

Tự soi tâm mỗi sáng

1. Nhịn đời để tấm thân yên- 2. Nhịn sự hơn thua khỏi luỵ phiền- 3. Nhịn kẻ hung hăn lòng độ lượng- 4. Nhịn tâm háo thắng cõi thần tiên- 5. Nhịn cha nhịn mẹ con hiếu thảo- 6. Nhịn vợ nhịn chồng gia đình ấm- 7. Nhịn anh nhịn chị ,thêm hoà thuận - 8. Nhịn xóm láng giềng nghĩa thân giao.

Tài nguyên dạy học

Góc riêng

Quà của thâỳ Hùng

Quốc hoa

Kỉ niệm bạn tặng

Sống

Qùa thâỳ Th. Dương

TUỔI THƠ

picture1

Giải trí

Đồng hồ trái đất

Thời gian trôi

ĐỒNG HỒ HOA SEN

Chị Vân tặng

Msmyen

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Vọc

    LỊCH

    Gốc > Quê hương (Bài viết) > Khác >

    "Treo" hồ trên cao nguyên đá

    Lên cao nguyên từ Yên Minh, Quản Bạ đến Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang) bây giờ có thể nhìn thấy thấp thoáng những hồ treo giữa núi đá. Dân sống trong xứ sở đá vôi đã dần quen với những hồ nước có viền cây xanh khác biệt giữa khô cằn đá xám. Trong đó có một hồ treo được xây hình trái tim. Đó là hồ treo Sà Phìn, (xã Sà Phìn, Đồng Văn), hồ treo đầu tiên được xây bằng mồ hôi, công sức, ý chí bền bỉ và nhiệt huyết...

       Ở cao nguyên đá (Hà Giang), nước có trong câu chuyện của những người đàn ông mỗi sáng, trong câu chuyện của những người đàn bà bên bếp lửa, nước ám ảnh cả trong những giấc ngủ của các em bé người Mông.

    Rồi có một ngày những nhà khoa học băng rừng, leo đá... tìm cách “treo” những chiếc hồ trên cao nguyên, giải cơn khát ngàn đời cho đồng bào dân tộc...

     

    Hơn 30 năm là khoảng thời gian ông Nguyễn Chí Tôn - nguyên phó giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Giang - lăn lộn tìm cách lấy nước, giữ nước trên cao nguyên đá. Còn PGS-TSKH Vũ Cao Minh (Viện Địa chất VN) thì trong hành trình tìm nước của mình, không biết ông đã đi về bao nhiêu chục lần trên xứ sở toàn đá này. Họ gặp nhau sau trận lũ quét ở Hà Giang, khi ông Tôn quàng quần dài lên cổ, lội nước đến bụng lo cách cứu dân. Sự đồng điệu đã mang họ gần lại nhau để cùng rong ruổi trong những chuyến thực địa dài ngày trên cao nguyên.

    Nước đâu trong đá

     

    Huyện Đồng Văn có 19 xã, thị trấn, hiện chỉ có bốn xã có nguồn nước sinh hoạt. Tương tự, huyện Mèo Vạc có 18 xã, thị trấn cũng chỉ bốn xã có nước. Do hạn hán, bốn huyện vùng cao nguyên đá Hà Giang mới chỉ gieo trồng được khoảng 50% diện tích canh tác, một số vùng thấp của cao nguyên phải chuyển đổi kế hoạch gieo lúa sang gieo ngô. Một số xã vùng cao hiện vẫn bỏ trống đất chờ mưa. Sự nỗ lực trong gần một thập kỷ bằng nhiều giải pháp khác nhau để tìm nước, hiện mới chỉ giải quyết được 30-50% nhu cầu nước (nếu tất cả hồ treo được duyệt hoàn thành)

    Năm 1970, 23 tuổi, chàng trai trẻ Nguyễn Chí Tôn lên Mèo Vạc “cùng ăn, cùng ở, cùng làm” với dân. Nguyễn Chí Tôn được dân xứ này xem như con nuôi. Ông và đồng nghiệp bám trụ lại xứ sở của đá để nghĩ cách tìm, giữ nước. Đứa con đầu lòng của ông Tôn lớn lên ở cao nguyên. Vợ ông như nhiều bà vợ người Mông khác, cũng dậy từ 2-3 giờ sáng đi lấy nước trong hang động, dè sẻn từng giọt nước vào mùa khô.

    Những năm 1990, Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ, Yên Minh (Hà Giang) được cấp kinh phí xây hàng ngàn bể nước, với dự tính mỗi người dân được 20 lít nước/ngày. Hàng chục kilômet đường ống được nối từ những điểm có tiềm năng nước đến các thôn bản. Hầu hết các xã đều có kỹ sư thủy lợi bám trụ. Nỗ lực đem nước về cho dân nhìn thấy rất rõ, nhưng thành quả mang lại thì ít ỏi. Không có nguồn nước, không có mưa, bể nước trơ đáy...

    Và nhà khoa học vào cuộc. Hành trình tìm nước của họ có chuyến đi ngắn, có chuyến dài ngày, đi ôtô, xe ôm, mượn xe tự leo trèo trên những đoạn đường đá dăm sắc nhọn hay cuốc bộ. Khoảng 20 lần trong khoảng một năm họ cứ lầm lũi như thế. Phần lớn trở về không, trong đầu không có được giải pháp nào. Anh Vũ Văn Vương, trưởng phòng quản lý khoa học Sở Khoa học - công nghệ Hà Giang, nhớ lại: “Ngày ấy, lần nào họ trở về cũng trong cảnh giày há mõm vì leo núi”.

    TS Vũ Cao Minh gần như thuộc hết những con đường dẫn về các xã, đoạn đèo, hẻm núi. “Hồi đó, những lần đầu tôi lên Hà Giang để nghiên cứu về lũ quét, nhìn nước ào ào chảy rồi biến mất trong các kẽ đá sâu hun hút. Tôi cứ ám ảnh chuyện làm gì để giữ lại nước, biến cái có hại (lũ) thành cái có ích. Thế rồi “chuyện giữ nước” cứ thế ám cả vào giấc ngủ. Có lần leo dốc mệt, chúng tôi ngồi nghỉ, nước không có, mang rượu ra uống rồi bàn: hay là tìm cách giữ nước kia trong các hang động?”.

    Sau mưa nước dồn lại trong núi, hang động. Họ tìm cách giữ lại và điều tiết để sử dụng, nước thoát ở đâu tìm cách bịt ở đó. Sau này, các nhà khoa học nghĩ đến chuyện xây đập điều tiết nước ở các cửa hang. Hì hụi trong một năm trời, cũng giữ được đến cả triệu mét khối nước. Nhưng cách đó chỉ có thể làm được ở các vùng thấp, có nhiều khe đứt gãy tạo nên hang động chứa nước. Còn trên vùng cao của Đồng Văn, Mèo Vạc thì nước chảy tuột xuống từ độ cao trên dưới 1.000m.

    Ông Tôn kể: “Có bữa, tôi xuống Hà Nội sau cả chục lần ông Minh và các anh bên viện địa chất lên. Chúng tôi ngồi với nhau ở quán nước chè vỉa hè trước cổng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đến 2-3 giờ sáng. Chúng tôi nói về nước và ngồi lặng lẽ bế tắc vì cảm thấy lại thất bại, chưa biết hướng đi ở đâu... “. Họ mất đến hai năm để tìm đường...

     

    TS Vũ Cao Minh nếm nước ở một hốc đá để phán đoán nguồn nước- Ảnh: Khương Xuân

    Ý tưởng từ những cơn mưa

    Ông Vũ Cao Minh chỉ cho chúng tôi những vách núi đá kề lên đá trên đường qua Sà Phìn, Đồng Văn và nói về tiền đề cho ý tưởng xây dựng hồ treo: “Chúng tôi cứ đi và đi, nhiều khi không có mục đích. Ban đầu chúng tôi bị ảnh hưởng mạnh bởi hướng phán đoán “nước sẽ có trong các khe đứt gãy và muốn tìm nước phải đi trong mùa khô”, và chúng tôi đã bị lạc hướng rất lâu vì phán đoán đó.

    Rồi một lần chúng tôi đi vào mùa mưa. Nhìn mưa trút xuống, trượt trên những khe nứt nhỏ ở bề mặt đá núi, một ý nghĩ bất chợt đến: “có thể thu nước trên vách núi, thay vì tìm nước trong lòng núi, hang động”. Thật ra khoa học đôi khi có yếu tố may mắn của nó.

    Trong sự “may mắn” này, họ đã phải loanh quanh một năm trời để hiểu một quy luật ngược: một nguồn nước dồi dào có thể thu từ vách núi trên cao nguyên (những khe nứt nông ở trên bề mặt vách đá) và muốn đi tìm nó phải đi vào mùa mưa. Những thực tế đó không có trong sách vở, chỉ có đi, đi nhiều lần, chấp nhận những rủi ro, mạo hiểm, chấp nhận những lần trở về tay không, kể cả chuyện phải ngủ đêm ngang đèo...

    Nhưng từ ý tưởng đến căn cứ khoa học lại là một khoảng cách xa. Nhóm của TS Minh cùng với các cán bộ thủy lợi của Hà Giang khi đó đã phải nằm dầm dề hàng tháng ở các thôn bản khác nhau trên cao nguyên. Không chỉ quan trắc, họ phải đo lượng mưa của các cơn mưa khác nhau, đo lượng nước chảy trên các địa hình vách núi khác nhau để đi đến một khẳng định về nguồn nước riêng trên những đỉnh cao đá vôi.

    Kết quả khảo sát nguồn nước trên vách đá của các nhà địa chất đã thuyết phục Viện Địa chất - Viện Khoa học công nghệ VN cho phép thử nghiệm mô hình hồ treo trên cao nguyên.

     

     

    Đó là hồ treo Sà Phìn (xã Sà Phìn, Đồng Văn), chiếc hồ nhỏ nhất trong số các hồ treo ở cao nguyên và cũng được xây với số tiền ít nhất do Viện Địa chất VN hỗ trợ. Đó là hồ treo đầu tiên được xây.

     

    Những đứa trẻ đi cõng nước ở hồ treo Thảo Phìn Tủng, Đồng Văn - Ảnh: V.Hà

    Thử thách trên đá tai mèo

    PGS-TSKH Vũ Cao Minh kể ông và đồng nghiệp đã phải đi lại hàng chục lần lên cao nguyên, đến nhiều xã. Nhưng nơi thuyết phục được cán bộ xã và dân thì khó xây hồ, nơi có thể xây hồ thì dân không thuận, cán bộ quay lưng.

    Riêng ở Thào Phìn Tủng, nhóm đã phải tìm chủ tịch xã nhiều lần. Có lần phải chờ chủ tịch xã hết cơn say, có lần phải ngồi cùng uống rượu. Rồi nhờ giáo viên của trường phổ thông trong xã mua gà, rượu, mời dân đến nói chuyện, thuyết phục. Bữa thì họ gật, bữa thì không. Có lần có đến vài chục người dân đại diện điểm chỉ vào giấy cam kết ủng hộ, nhưng vài ngày sau họ lại từ chối.

    Bế tắc, một lần ông Minh, ông Nguyễn Chí Tôn (lúc đó là phó giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Giang) lại phải tìm đến một xã mới.

    Hồ Sà Phìn được chọn xây ở điểm có độ cao 1.300m, ban đầu thiết kế theo hướng trải bạt chống thấm dưới đáy, nhưng khi thử nghiệm thu nước, áp lực nước quá mạnh đã xé bung bạt, buộc nhóm thiết kế và thi công phải chuyển sang đổ bêtông.

    Toàn bộ vật liệu xây dựng đều phải chở từ thị xã Hà Giang (nay là TP Hà Giang) lên. Đơn vị thi công không có kinh nghiệm xây hồ trên núi đá vôi, cứ xây xong lại bục.

    Một vài chuyên gia thủy lợi lên cũng lắc đầu ngao ngán vì có muôn vàn khó khăn: đường núi hiểm trở, vật liệu khó vận chuyển, hồ trên núi đá thì khó chống rò rỉ...

     

    Từ năm 2006-2010, Chính phủ đã phê duyệt cho xây dựng thêm trên 40 hồ treo theo công nghệ của TSKH Vũ Cao Minh tại các huyện vùng cao nguyên đá Hà Giang. Nhưng trong 28 hồ đã thi công, đến đầu năm 2010 mới chỉ có 11 hồ hoàn thành đưa vào sử dụng, các hồ còn lại bị chậm tiến độ phải ngừng, thiết kế lại... do tính chất phức tạp của địa hình núi đá vôi. Có những đơn vị thi công bỏ cuộc vì sợ lỗ, vì nản chí.

    TS Vũ Văn Bằng (nguyên phó viện trưởng Viện Công nghệ nước và môi trường) năm đó mới từ Ba Lan về, dự định chỉ ở VN một thời gian ngắn. Nhưng khi chứng kiến nỗi khó khăn của các nhà địa chất đang lăn lộn với vùng cao nguyên đá, ông đã từ bỏ hẳn cuộc sống, công việc ở nước ngoài, khoác balô lên Đồng Văn.

    Ông ăn ở ngay tại những bãi đá tai mèo bên cạnh nơi xây hồ. Tự củi lửa nấu cơm giữa công trường đá tai mèo trong mùa đông lạnh giá, nhanh thì hai tuần, nếu không phải một tháng ông mới đón xe ôm về thị trấn Đồng Văn tắm giặt một lần.

    Không điện, không máy tính... tất cả bản vẽ thi công TS Vũ Văn Bằng đều vẽ bằng tay trên những tờ lịch khổ lớn. Tất cả công thức tính toán cũng được ông đo đạc và tính toán ngay trên bãi đá tai mèo nơi xây chiếc hồ treo đầu tiên trên cao nguyên đá. TS Vũ Văn Bằng đã đảm nhiệm công việc chủ yếu của người giám sát thi công hồ treo Sà Phìn trên địa hình đá vôi.

    Tháng 5-2002, hồ “trái tim” bắt đầu thu nước. Chỉ với sức chứa 3.000m3 nhưng hồ Sà Phìn đã có nước cung cấp cho mấy xã.

    Hồ treo Tà Lủng (Mèo Vạc) có quy mô lớn gấp 10 lần hồ “trái tim” ở độ cao 1.200m. Kinh phí do Trung tâm Nước sạch vệ sinh môi trường (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) cấp chỉ hơn 1 tỉ đồng. Từ thiết kế đến giám sát thi công... đều làm việc không lương. Có quá nhiều phát sinh so với thiết kế ban đầu khiến kinh phí bị cạn, ông Bằng và ông Minh tự bỏ tiền túi làm tiếp.

    Sau bao vất vả, cuối cùng hồ treo Tà Lủng đã làm xong sứ mệnh của mình: đem lại niềm tin về giải pháp hồ treo. Ông Đàm Văn Bông, phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang, khẳng định: “Cho đến nay hồ treo vẫn là giải pháp hiệu quả nhất mang nước về cho người dân vùng cao, mà công đầu thuộc về TSKH Vũ Cao Minh”.

    Năm 2006, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lên thăm hồ treo của Hà Giang và phê duyệt đề xuất của tỉnh làm 30 hồ treo ở những huyện vùng cao thiếu nước.

    “Nối mạng nước”

    Ngay sau khi giải pháp hồ treo được công nhận và đưa vào thi công hàng loạt, nhóm các nhà khoa học: Vũ Cao Minh, Nguyễn Hữu Nùng, Nguyễn Chí Tôn, Trịnh Quốc Hải, Vũ Văn Bằng, Tạ Văn Khoa, Vũ Văn Vương và Hà Ngọc Anh đã bắt tay vào việc đo vẽ địa chất thủy văn bốn huyện vùng cao núi đá của Hà Giang để lập quy hoạch tổng thể về nước cho vùng này.

    Ý tưởng của nhóm tác giả này về việc “nối mạng nước” trên cao nguyên đá được nhiều người tán đồng, nhưng cũng có những người cho rằng đó sẽ chỉ là... câu chuyện viễn tưởng. Vì xây một hồ treo ở thời điểm này còn khó huống hồ “nối mạng”.

    Dù vậy, một điều tra chi tiết về thực trạng địa chất thủy văn của cao nguyên đá vẫn được lập. Các nhà nghiên cứu tìm ra gần 100 điểm có tiềm năng nước, trong đó chủ yếu là nước vách núi (trên 60 điểm), có khoảng 20 hang động có thể khai thác nước và một số nguồn nước mặt (khe suối, sông).

    Chia sẻ với chúng tôi trong chuyến đi thực địa gần nhất lên Đồng Văn, Mèo Vạc, TS Vũ Cao Minh trầm ngâm: “Những cái mới hay khiến người ta nghi ngại. Nhưng chúng tôi không vẽ sơ đồ nối mạng bằng những số liệu tưởng tượng. Khi làm được sẽ giải quyết hiệu quả cơn khát nước ở vùng cao”.

    Với “sơ đồ nối mạng”, những điểm có tiềm năng khai thác nước từ nhiều nguồn khác nhau sẽ xây dựng các hồ treo quy mô lớn. Các hồ đầu nguồn sẽ được nối tới các hồ nhỏ hơn để chia sẻ nguồn nước. Theo cách đó, tại các thôn bản khó có thể thu nước trực tiếp từ vách núi cũng có thể xây hồ để lấy nước thông qua các hồ lớn.

    Với sơ đồ quy hoạch hồ treo, các hồ treo được đặt ở vị trí thuận tiện cho việc dẫn đường ống đến thôn bản, người dân không phải lo đi địu nước tận hồ như hiện nay.

    Giấc mơ “nối mạng” hệ thống nước để giải khát cho cao nguyên đá có vẻ đang hình thành, nhưng chặng đường phía trước của những nhà khoa học vẫn còn đầy thách thức...

    VĨNH HÀ - KHƯƠNG XUÂN

     Ý KIẾN BẠN  ĐỌC

    Không ồn ào nhưng thật cao quý
    Các bạn đồng nhiệp của tôi sáng nay đọc xong phóng sự này đều nhất trí một điều là không thể làm được những điều tốt đẹp nếu không có những tấm lòng cao đẹp. Lặn lội từ Hà Nội lên vùng núi Tây Bắc hiểm trở chỉ với một khát vọng được mang lại nguồn nước sinh hoạt cho người dân, điều này khiến nhiều người trong chúng ta cảm thấy thật nhỏ bé, vì rằng đã có bao giờ chúng ta vượt qua được nỗi đau của bản thân để nghĩ đến nỗi đau của người khác hay chưa? Họ, những người đi tìm nguồn nước mát cho đời, đã làm được điều đó một cách thật giản dị, không ồn ào nhưng thật cao quý. Nguồn nước là nguồn sống, bằng những việc làm thầm lặng của mình họ đã lặng lẽ mang đến cho cuộc sống những bông hoa đẹp ngát hương. Cảm ơn các anh đã làm cho chúng tôi hiểu được điều giản dị trong cuộc sống, mang hạnh phúc tới cho người khác cũng là lúc mình cảm nhận được hạnh phúc đến với chính mình.
    Kỳ Thanh
    Các anh đã làm đẹp thêm cuộc sống
    Không phải ai cũng biết được nỗi vất vả trong sinh hoạt hàng ngày khi thiếu nước. Đủ thứ chuyện sinh ra, rồi ốm đau, bệnh tật, và chất lượng cuộc sống giảm đi rõ rệt. Tôi làm y tế dự phòng ở một huyện ngoại thành Hà Nội, tôi đã chứng kiến rất nhiều ca bệnh liên quan đến nguồn nước ăn uống. Đấy là còn có nước để sử dụng, còn như những người dân Hà Giang thì thật khổ. May mắn thay các nhà khoa học đã bằng tài năng, trí tuệ và hơn cả là một bầu nhiệt huyết đã mang lại dòng nước quý giá cho cao nguyên đá nổi tiếng khắc nghiệt. Những người như các anh đã làm đẹp thêm cuộc sống của chúng ta.
    Linh Xuân
    Những nhà khoa học nhân dân
    Hiện nay chúng ta ngày nào cũng được nghe ở tỉnh này vừa khánh thành khách sạn 4 sao, ở tỉnh kia vừa khai trương khu ressort 5 sao... Nhưng những mảng tối, tôi tạm gọi những cái thiếu thốn khốn khó của người như thế, của cuộc sống thì lại ít được quan tâm. Cuộc sống của nhân dân ở cao nguy­ên đá Hà Giang nói riêng và miền núi phía Bắc nói chung phải nói là cực kỳ vất vả, thiếu thốn đủ thứ, gian nan mọi bề. Tôi đã đi qua hầu hết các tỉnh miệt Tây Bắc nên rất cảm thông với người dân ở đây về việc thiếu nước sinh hoạt. Nay đọc được bài viết này về những con người đã lặn lội từ dưới đồng bằng lên miền cao để tìm cách giữ lại những giọt nước hiếm hoi cho bà con sử dụng, tôi thật sự xúc động. Dù với bất kỳ lý do nào đi nữa thì những con người ấy, những nhà khoa học ấy, đều xứng đáng là những nhà khoa học chân chính, những nhà khoa học nhân dân. Xin cảm ơn các bạn đã cho chúng tôi biết về những chuyện tốt đẹp này, chúng như những giọt nước mát trên cao nguyên đá giữa mùa khô hạn vậy.
    Thiết Trường
    Thầy Minh
    Tôi là một học trò của thầy Minh, tôi rất vui khi đọc được bài này. Với những sinh viên chúng tôi được học thầy Minh là một niềm vinh dự. Thầy luôn truyền cho chúng tôi nhiệt huyết về nghề nghiệp. Với thầy, không bao giờ biết mệt mỏi, lùi bước khi công việc còn dở dang. Lòng đam mê của thầy đã thôi thúc thầy đến với dự án hồ treo trên núi mà các bạn đã đọc ở trên. Đây quả thực là một tình yêu lớn lao của thầy đối với cao nguyên đá. Thầy đã dồn rất nhiều tâm huyết, tình cảm và cả tiền bạc cho dự án này từ rất lâu. Chúng tôi rất vui sướng khi biết nó, dự án hồ treo, đã được thực hiện một phần. Theo như chúng tôi được biết thì nguyện vọng của thầy không chỉ dừng lại ở đây, nó còn tiếp tục với những ước mơ to lớn hơn nữa. Xin chúc thầy luôn hết mình với những đam mê nghề nghiệp của thầy, và chúc cho những dự án như này thế luôn được Chính phủ quan tâm để mang lại hạnh phúc cho người dân.
    Cau_Xuan
    Tiêu đề
    Chuyện tìm nước mang lại cho tôi như được đọc một câu chuyện thần thoại. Thần mưa mang nước, mang nguồn sống, đến cho con người qua những cơn mưa, từ nhỏ tôi đã được nghe bà tôi kể thế. Nhưng bây giờ tôi mới hiểu nỗi gian nan của đồng bào miền Tây Bắc vì thần mưa không ưu ái họ như những người dưới xuôi chúng tôi. May lắm vì chúng ta còn có những con người như TS Minh, ông Tôn... Họ đã chấp nhận gian khổ vì một điều vô cùng đẹp, mang lại cho cao nguyên đá nguồn nước tươi mát. Đó cũng chính là ý nghĩa cao đẹp nhất của cuộc đời một nhà khoa học chân chính: mang lại hạnh phúc cho con người. Xin cảm ơn TT đã viết về những con người này, câu chuyện thần thoại về những người đã làm thay việc của thần mưa.
    An Việt

     

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Diễm My @ 21:53 15/05/2010
    Số lượt xem: 212
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Thông tin các thành viên

    174201210152147
    Đ
    i
    T
    ì
    m
    T
    r
    i
    T
    h
    c

    Sinh nhật thành viên và Web nhóm MAE