Hân hạnh đón tiếp

1 khách và 0 thành viên

MỜI BẠN DÙNG TRÀ

Hôm nay là....

12_01

Lick cho ăn dùm nha!

Ảnh ngẫu nhiên

GUI_NGUOI_TOI_YEU2.swf 270.jpg Picture3.jpg Picture2.jpg Picture1.jpg Picture1_500_06.jpg Bai_thi_so_1__lop_3.flv Bai_thi_so_2_lop_2.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_thi_so_1_lop_2.flv Bai_lam_so_1.flv Vochanh3.jpg D3.jpg D2.jpg Deu.jpg Chanh.jpg Son_dau.jpg Sd.jpg 0.jpg

Tự soi tâm mỗi sáng

1. Nhịn đời để tấm thân yên- 2. Nhịn sự hơn thua khỏi luỵ phiền- 3. Nhịn kẻ hung hăn lòng độ lượng- 4. Nhịn tâm háo thắng cõi thần tiên- 5. Nhịn cha nhịn mẹ con hiếu thảo- 6. Nhịn vợ nhịn chồng gia đình ấm- 7. Nhịn anh nhịn chị ,thêm hoà thuận - 8. Nhịn xóm láng giềng nghĩa thân giao.

Tài nguyên dạy học

Góc riêng

Quà của thâỳ Hùng

Quốc hoa

Kỉ niệm bạn tặng

Sống

Qùa thâỳ Th. Dương

TUỔI THƠ

picture1

Giải trí

Đồng hồ trái đất

Thời gian trôi

ĐỒNG HỒ HOA SEN

Chị Vân tặng

Msmyen

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Vọc

    LỊCH

    Gốc > Quê hương (Bài viết) > Khác >

    Tổ quốc ở những vùng đất thiêng


    Nơi đó có thể là đỉnh Lũng Cú- Hà Giang, điểm cao nhất của cực Bắc Việt Nam, là mũi Cà Mau hoặc những hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Và chỉ khi ở đó, chúng ta mới thực sự cảm nhận sâu sắc nhất sự thiêng liêng và niềm kiêu hãnh của hai tiếng: Tổ quốc.

    Đất thiêng Lũng Cú

    Đứng ở ngọn núi cao nhất của khu vực hình chóp nón trên bản đồ Việt Nam là đỉnh Lũng Cú, thuộc xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.

    Ngọn núi này có độ cao khoảng 1.700m so với mực nước biển. Đây là một điểm nhỏ nằm trên đường biên giới Việt Nam- Trung Quốc. Nếu mô phỏng một cách tương đối hình dạng đường biên giới Việt Nam- Trung Quốc thành một chóp nón thì hai điểm thấp nhất theo kinh độ là Tây Trang, Điện Biên và Sa Vĩ, Móng Cái, còn Lũng Cú là đỉnh của chóp nón này, cũng là điểm cao nhất của cực Bắc Việt Nam.

    Tổ quốc ở những vùng đất thiêng, Tin tức, dia dau to quoc, du lich
    Cờ Tổ quốc tung bay trên cột cờ Lũng Cú, Đồng Văn, Hà Giang.

    Ở đây có cột cờ Tổ quốc, cột cờ Lũng Cú. Ngước mắt nhìn lá cờ rộng 54 mét vuông (dài 9 mét, rộng 6 mét), tượng trưng cho 54 dân tộc anh em tung bay phần phật trong nắng gió biên cương như cảm thấy hồn thiêng sông núi. Đứng bên cột cờ Tổ quốc, nghe những cách lý giải về hai chữ Lũng Cú ta sẽ thấy bao điều thú vị…

    Có người kể rằng tại địa điểm dựng đồn biên phòng Lũng Cú, từ thời Tây Sơn sau khi đại phá quân Thanh, Hoàng đế Quang Trung đã cho đặt một chiếc trống đồng rất lớn và cứ mỗi canh giờ lại gióng lên 3 hồi như để khẳng định chủ quyền đất nước. Chính vì thế, Lũng Cú khi đọc chệch âm sang âm tiếng Mông là “Long Cổ”, tức là “trống của vua”. Một điều thú vị là người Mông tại nơi đây hầu như đều biết đánh trống đồng.

    Theo một cách lý giải khác thì Lũng Cú là cách đọc chệch của từ “Lũng Cừu”, theo ngôn ngữ của người H'Mông thì “Lũng Cừu” có nghĩa là Lũng Ngô, vì trên cánh đồng Thèn Pả lớn nhất ở Lũng Cú có rất nhiều ngô, quanh năm xanh tốt. Có người nói Lũng Cú là tên người đứng đầu một dòng họ dân tộc Lô Lô, có công khẩn hoang, gìn giữ và phát triển vùng đất này. Cũng có người nói đó là cách gọi theo tiếng quan thoại của hai chữ Long Cư, nghĩa là nơi rồng ở.

    Nhưng dù là quan niệm thế nào đi nữa thì vùng đất Lũng Cú từ xa xưa vẫn luôn được các triều đại phong kiến coi là một trong những vùng đất tiền đồn có vai trò quan trọng ở phía Bắc.

    Có sử liệu chép rằng Thái úy Lý Thường Kiệt đã có lần hội quân lớn ở địa điểm này nhằm biểu dương sức mạnh và ý chí bảo vệ bờ cõi và ông là người đầu tiên cho dựng cột cờ bằng cây sa mộc ở khu vực này. Câu chuyện Hoàng đế Quang Trung đặt trống ở đây cũng là một cách khẳng định chủ quyền đất nước…

    Câu chuyện dựng cột cờ Tổ quốc ở Lũng Cú cũng đầy hào sảng. Vào dịp Tết năm 1977, nhân dân 19 xã trong huyện Đồng Văn nô nức ra quân làm 13 km đường, bắt đầu từ xã Ma Lé. Nhằm đảm bảo tiến độ thi công, huyện giao định mức cho mỗi xã làm 800 mét đường, xã lại giao định mức cho mỗi hộ dân làm từ 2 -4m. Vậy là toàn dân Đồng Văn đổ lên Ma Lé. Mỗi gia đình chỉ để lại người già và trẻ con ở lại giữ nhà, còn tất cả đều gùi cuốc xẻng, quần áo, lương thực ra bám đường. Từng nhà dựng một chòi canh ngay sát khu vực làm đường mà mình được phân công, làm ngày làm đêm không nghỉ. Đoạn đường của nhà này dần nối với đoạn đường nhà kế bên. Nhà nhà thi đua miệt mài suốt gần 2 năm ròng như thế để con đường thông xe vào ngày 14/8/1978.

    Trước đây trên đỉnh núi Rồng có cắm một lá cờ, nhưng nhỏ. Sau khi hoàn thành con đường dài 13 km từ xã Ma Lé lên núi Rồng, xã Lũng Cú cử 20 thanh niên khỏe mạnh nhất vào rừng tìm một cây thông cao gần 20 mét, đường kính 20 phân để làm cột cờ. Lá cờ chiều dài 9 m, rộng 6m, tổng diện tích 54 mét vuông tượng trưng cho 54 dân tộc anh em sống trên dải đất hình chữ S càng thêm ý nghĩa thiêng liêng. Người dân Đồng Văn coi lá cờ là nơi gửi gắm niềm tin của đồng bào với Đảng, với Bác Hồ.

    Vào những năm 1992, 2000 và 2002, cột cờ tiếp tục được trùng tu hoặc xây dựng lại nhiều lần với kích thước, quy mô lớn dần theo thời gian. Gần đây nhất, để cột cờ Lũng Cú xứng đáng là niềm kiêu hãnh của quân và dân cả nước, năm 2010 đúng dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Hà Giang đã khởi công xây dựng và nâng cấp cột cờ Lũng Cú mô phỏng kiến trúc cột cờ Hà Nội.

    Ngày 25/9/2010, sau 7 tháng thi công, cột cờ Lũng Cú mới đã được hoàn thành. Cột cờ mới có chiều cao 33,15m (hơn cột cờ cũ 10m), đường kính ngoài thân cột rộng 3,8m. Cột cờ được thiết kế hình bát giác, chân, bệ cột cờ có 8 mặt phù điêu bằng đá xanh mô phỏng hoa văn mặt trống đồng Đông Sơn và những họa tiết minh họa các giai đoạn qua từng thời kỳ lịch sử của đất nước, cũng như con người, tập quán của các dân tộc ở Hà Giang. Đường lên đỉnh núi cột cờ được xây lại gồm 283 bậc lên theo lối cũ, đồng thời xây mới thêm 283 bậc đi xuống (trước đây chỉ có một đường lên). Thân cột cờ mới có hệ thống thang bộ lên đỉnh.

    Đứng ở chân cột cờ, phóng tầm mắt bao quát một vùng biên cương rộng lớn của Tổ quốc Việt Nam: Con sông Nho Quế uốn lượn phân chia ranh giới Việt – Trung, núi non trùng điệp xen kẽ những khoảnh ruộng bậc thang tạo nên một vẻ đẹp đặc trưng của vùng núi phía Bắc. Dưới thung lũng, bản làng người Mông, Lô Lô, Tày, Pu Péo… ấm áp tỏa khói lam chiều. Đặc biệt, giữa miền khô khát bậc nhất cực Bắc của Tổ quốc, nằm giữa những nếp nhà bình yên của hai thôn Lô Lô Chải và Thèn Tả có 2 hồ nước trong xanh, quanh năm không bao giờ cạn. Hai hồ nước cách nhau khoảng 200 m ngay dưới dân núi được ví như đôi mắt rồng với diện tích mặt hồ lên đến hàng nghìn mét vuông, từ lâu đã được coi là nguồn sống và một biểu tượng của cao nguyên đá.


    Đất Mũi Cà Mau – nơi đất nước vươn mình ra phía biển

    “Tổ quốc tôi như một con tàu/ Mũi thuyền ta đó - mũi Cà Mau”. Những câu thơ rất gợi của nhà thơ Xuân Diệu đã thúc giục biết bao người từ khắp mọi miền đất nước và từ những châu lục xa xôi đến với đất mũi Cà Mau- nơi tận cùng cực Nam của Tổ quốc ta, nơi mảnh đất được khám phá khoảng cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18. Chỉ khi đứng ở nơi này, chúng ta mới thực sự cảm nhận sâu sắc về sự thiêng liêng của mỗi tấc đất cha ông từ "thuở mang gươm đi mở cõi", nơi duy nhất trên đất liền Việt Nam người ta có thể thấy mặt trời mọc trên Biển Đông và lặn ở biển phía Tây…

    Tổ quốc ở những vùng đất thiêng, Tin tức, dia dau to quoc, du lich
    Biểu tượng Mũi Cà Mau.


    Sau chừng một tiếng ngồi trên canô từ Năm Căn là chúng ta đặt chân đến Đất Mũi (thuộc xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau). Con đường lát đá mát bóng cây dẫn du khách bên tấm đá lớn màu đỏ ghi dòng chữ: Mốc tọa độ Quốc gia- điểm tọa độ GPS 001.Ai cũng cố có một tấm ảnh chụp lưu niệm ở đây.

    Đi thêm một chút nữa là tới biểu tượng Mũi Cà Mau đã được xây dựng theo ý tưởng câu thơ của nhà thơ Xuân Diệu: Tổ quốc tôi như một con tàu/ Mũi thuyền ta đó- Mũi Cà Mau. Đây Mũi Cà Mau, nơi tận cùng cực Nam của Tổ quốc ở tọa độ: 8 độ 37'30” vĩ Bắc, 104 độ 43′ kinh Đông. Đến nơi này, không ai không xúc động, bởi đây là mảnh đất tận cùng cực Nam của Tổ quốc.

    Từ trên Vọng Hải Đài cao chừng 20 m, giữa đất và trời hoang sơ, ta ngắm nhìn những cánh hải âu chao liệng trên những vùng đất phù sa mầu mỡ, những khu rừng ngập nước quanh năm, những cây đước rễ chùm gân guốc như những chiếc nơm nhỏ, như những bàn tay đan lấy bàn tay ôm bám lấy đất mẹ, để giữ cho đất nở, để mũi thuyền đất nước mãi tiến xa thêm vào lòng biển...

    Để tạo dấu ấn về hình ảnh Đất Mũi Cà Mau trong du khách trong và ngoài nước, thời gian qua, Trung tâm Thông tin và Quảng bá du lịch Cà Mau đã đưa hình ảnh vùng Đất Mũi vào các tập gấp, tờ rơi, đĩa CD và các hội thảo chuyên đề về du lịch. Công viên Văn hóa du lịch Cà Mau cũng được tỉnh mở rộng từ 100 ha lên 150 ha để đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ du khách tốt hơn trong những năm tới…

    Đất Mũi mời gọi du khách và con đường về với nơi đây giờ đây đã thuận tiện hơn, khi 6 cây cầu trên tuyến quốc lộ 1A đoạn Đầm Cùng - Năm Căn và tuyến đường bộ Khai Long- Đất Mũi đã hoàn thành. Giao thông thông suốt sẽ góp phần tạo nên diện mạo mới cho vùng đất mũi Cà Mau, tạo động lực lớn cho Cà Mau và cả vùng đồng bằng sông Cửu Long cất cánh, vươn mình phát triển ra phía biển...

    Trường Sa không xa

    Với mỗi người ở đất liền từng đặt chân tới những hòn đảo giữa bốn bề sóng gió ở quần đảo Trường Sa, cảm nhận về cuộc sống nơi đây thật đặc biệt.

    Rưng rưng, xúc động, đợi chờ, vui mừng… là những cảm giác khó diễn tả bằng lời của cán bộ chiến sĩ hiện đang công tác trên các đảo ở quần đảo Trường Sa mỗi khi nghe tiếng còi tàu từ con tàu trong đất liền vượt biển khơi ra đảo rúc lên như một lời chào…Với các anh, mỗi chuyến tàu cập đảo là một ngày hội lớn, ngày vui gặp gỡ với những người của đất liền.


    Tổ quốc ở những vùng đất thiêng, Tin tức, dia dau to quoc, du lich

    Lính đảo nhận quà của đất liền.


    Giữa biển khơi, nơi quanh năm chỉ nghe tiếng sóng và gió biển, các anh khao khát hơn bao giờ hết lời ca, tiếng hát. Các đảo nổi còn có sân khấu, còn ở đảo chìm và nhà giàn, thì văn công hát ngay bên hành lang hoặc sàn dưới của nhà giàn. Người biểu diễn và người nghe cùng hòa chung giọng hát, quây quần bên nhau, tay trong tay, hát cho nhau nghe bằng tất cả trái tim mình, để át tiếng sóng, để át tiếng gió, để đất liền luôn gần gũi và ấm áp.

    Nơi đảo xa, mỗi khi hoàng hôn buông xuống mờ dần những con sóng cũng là lúc lính đảo nhớ nhà nhất. Nhớ nôn nao khói bếp lam chiều, nhớ dáng lưng còn của mẹ, nhớ bước đi vội vã của vợ khi đón con lúc tan trường, nhớ hương tóc, giọng nói của người yêu... Và như muốn dịu đi nỗi nhớ đầy vơi, những bức thư của người thân dẫu đọc đã thuộc lòng, người lính đảo vẫn mang ra đọc…

    Ở Trường Sa, có những âm thanh với người lính đảo như là sự diệu kỳ, bởi lẽ đơn giản đó là âm thanh bình dị của cuộc sống đời thường.

    Tiếng chó sủa, tiếng lợn kêu, tiếng gà trống gáy, tiếng gà mẹ cục tác gọi con… nếu ở đất liền là điều rất bình thường vì chúng có thể bị chìm lấp giữa biết bao âm thanh ồn ã khác. Nhưng ở những hòn đảo giữa biển khơi, ở Trường Sa, những âm thanh ấy sao thân thương đến lạ kỳ, nó gợi cảm giác như đất liền đang ở gần kề với những làng lính trên đảo.

    Nhưng có lẽ xúc động nhất, ngay cả với những người từ đất liền ra Trường Sa, chính là tiếng cười đùa, tiếng đọc bài của những em nhỏ- những mầm sống non tươi trên đảo đầy cát và nắng gió giữa bốn về sóng nước. Tiếng đọc bài của các em nhỏ, tiếng giảng bài của cô giáo như làm dịu đi cái khô khát của những hòn đảo quanh năm chỉ có nắng và gió, sóng và cát trắng này. Thế hệ công dân nhỏ tuổi trên Trường Sa như những mầm xanh của cây phong ba, tăng thêm nhựa sống cho quần đảo thân yêu này của Tổ quốc.

    Trường Sa không xa, Trường Sa rất gần...


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Diễm My @ 03:01 27/01/2012
    Số lượt xem: 228
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Thông tin các thành viên

    174201210152147
    Đ
    i
    T
    ì
    m
    T
    r
    i
    T
    h
    c

    Sinh nhật thành viên và Web nhóm MAE