Hân hạnh đón tiếp

1 khách và 0 thành viên

MỜI BẠN DÙNG TRÀ

Hôm nay là....

12_01

Lick cho ăn dùm nha!

Ảnh ngẫu nhiên

GUI_NGUOI_TOI_YEU2.swf 270.jpg Picture3.jpg Picture2.jpg Picture1.jpg Picture1_500_06.jpg Bai_thi_so_1__lop_3.flv Bai_thi_so_2_lop_2.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_thi_so_1_lop_2.flv Bai_lam_so_1.flv Vochanh3.jpg D3.jpg D2.jpg Deu.jpg Chanh.jpg Son_dau.jpg Sd.jpg 0.jpg

Tự soi tâm mỗi sáng

1. Nhịn đời để tấm thân yên- 2. Nhịn sự hơn thua khỏi luỵ phiền- 3. Nhịn kẻ hung hăn lòng độ lượng- 4. Nhịn tâm háo thắng cõi thần tiên- 5. Nhịn cha nhịn mẹ con hiếu thảo- 6. Nhịn vợ nhịn chồng gia đình ấm- 7. Nhịn anh nhịn chị ,thêm hoà thuận - 8. Nhịn xóm láng giềng nghĩa thân giao.

Tài nguyên dạy học

Góc riêng

Quà của thâỳ Hùng

Quốc hoa

Kỉ niệm bạn tặng

Sống

Qùa thâỳ Th. Dương

TUỔI THƠ

picture1

Giải trí

Đồng hồ trái đất

Thời gian trôi

ĐỒNG HỒ HOA SEN

Chị Vân tặng

Msmyen

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Vọc

    LỊCH

    Gốc > Quê hương (Bài viết) > Bắc >

    Những làng nghề nổi tiếng bậc nhất Thăng Long

         
         
     

    Cổng làng Yên Thái

               Thăng Long xưa tập trung nhiều làng nghề thủ công nổi tiếng, được truyền từ đời này sang đời khác. Dân gian đã đúc kết: “Lĩnh hoa Yên Thái, đồ gốm Bát Tràng, thợ vàng Định Công, thợ đồng Ngũ Xã” để nói về những làng nghề truyền thống trên mảnh đất kinh kỳ này. Tìm về những làng nghề truyền thống đó đến nay nơi vẫn duy trì và phát triển nghề, nơi chỉ còn trong ký ức những người cao niên của làng.

    Giấy dó Yên Thái

    Yên Thái thời Lý có tên gọi là phường Tích Ma, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên. Từ đời Minh Mạng, phường Tích Ma được đổi thành xã Yên Thái với ba thôn là An Đông, An Thọ và Yên Thái. Đến nay, ba thôn này là ba cụm dân cư thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội.

    Ngày ấy, vùng Bưởi xưa có nhiều làng nghề, trong đó có hai nghề thủ công nổi tiếng là dệt lĩnh (làng Bái Ân, Trích Sài) và làm giấy dó (làng Hồ Khẩu, Yên Thái). Người già trong làng nói rằng, câu “lĩnh hoa Yên Thái” là nói về nghề dệt vải, Yên Thái nằm chung trong vùng Bưởi ngày trước nổi tiếng với nghề dệt lĩnh, nhưng nghề truyền thống được ghi danh ở đây phải là nghề làm giấy dó. Âm thanh của tiếng chày giã vỏ dó ngày đêm vang động cả vùng nước hồ Tây mênh mông. Tiếng chày đi vào ca dao và thành một điểm đặc trưng cho làng nghề ở đất Thăng Long - Hà Nội cho tới tận những năm 60 của thế kỷ 20.           

    Mịt mù khói toả ngàn sương

    Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ.

    Theo sử sách, nghề làm giấy ở đây có từ thế kỷ XV. Trong sách “Dư địa chí”, Nguyễn Trãi viết: Phường Yên Thái ở Thăng Long đương thời gồm nhiều làng: Hồ Khẩu, Đông Xã, An Thọ, Yên Thái, Nghĩa Đô chuyên làm ra nhiều loại giấy: giấy sắc (để viết sắc của vua ban), giấy lệnh (để viết các lệnh chỉ của vua), giấy bản (phục vụ dân dụng), giấy quỳ... Giấy dó Yên Thái từng là mặt hàng triều cống cho nhà Tống của đời vua Lý Cao Tông (1176 - 1210).

    Khi biết chúng tôi muốn tìm hiểu về chuyện làm giấy dó xưa kia, người dân ở đây nói phải gặp ông Nguyễn Thế Đoán, ở làng Đông Xã cũ. Ông Đoán là người duy nhất trong vùng giữ bí kíp gia truyền và còn có đủ các đồ nghề để sản xuất giấy. Ông cũng là người duy nhất mong muốn khôi phục nghề làm giấy dó lụa gia truyền của dòng họ Nguyễn Thế.

    Ông Đoán năm nay 75 tuổi, nhà ông nằm trong một con hẻm của đường Thụy Khuê. Những đồ nghề để làm giấy đặt ngay trước sân nhà ông, gồm một chiếc bể seo giấy, một bộ cối và chày giã giấy, một chiếc thùng phi dùng để nấu vỏ dó cùng các công cụ làm giấy: liềm, khuôn seo, nong, sàng, sọt, giá... Ông Đoán tự hào khẳng định đây là loại giấy dó lụa có một không hai ở Việt Nam, nó vừa dai vừa mịn, lại bóng như tơ, ngâm nước khó bở, xé khó rách, không lo mối mọt..., chẳng có loại giấy nào tốt và bền bằng. Giấy này xưa kia chuyên được dùng vào việc viết các loại sắc phong, chiếu chỉ, in kinh sách. Chính loại giấy này được chọn để in bản Di chúc của Bác Hồ để phát cho các cơ quan cao cấp của Trung ương sau khi Bác mất. Ông Đoán có được một bản và lưu giữ rất cẩn thận. Sau nhiều năm, những trang giấy vẫn vẹn toàn, cứng cáp. Ông nói chính lò sản xuất của dòng họ Nguyễn Thế làm ra những trang giấy này.

    Những tháng ngày của thập niên 60 thế kỷ trước, tiếng chày giã dó thình thịch suốt ngày đêm. Cả vùng Bưởi chỉ im lặng từ lúc chập choạng tối, khi người dân tranh thủ ăn cơm chiều và tranh thủ chợp mắt. Từ canh hai, trong làng lại vang nhịp chày giã dó xen lẫn tiếng gọi nhau í ới. Cái nghề này vất vả lắm, phải trải qua nhiều công đoạn từ bóc vỏ dó, ngâm và giặt dó, giã dó, nấu dó, lọc dó, seo giấy, phơi giấy đến đóng gói kiện giấy và vận chuyển đi bán đều thực hiện thủ công với đôi tay trần của người thợ. Sản xuất giấy dùng nhiều nước sạch để ngâm, đãi, nấu dó. Bột dó phải nấu qua lửa mới thành giấy. Lò nấu dó đắp bên sông Tô Lịch, miệng lò đặt chiếc vạc, vỏ dó được đun cách thủy giống như đồ xôi. Khi vỏ dó chín, vớt ra đem ngâm vôi. Sau đó bỏ hết vỏ đen, phần còn lại trắng muốt được cho vào cối giã nhuyễn. Bà Nguyễn Thị Lai - vợ ông Đoán là một thợ làm giấy vào loại nhất nhì trong dòng họ. Bà đứng bên chiếc bể, vén tay áo vừa thực hiện động tác sàng giấy vừa kể chuyện, con gái làng nghề khi xưa ra đường không dám mặc áo cộc tay, bởi khi sàng giấy phải tì hai tay vào thành bể, lâu ngày thành chai, thành sẹo. Trai làng thì nhận ra ngay bởi dáng đi của chị nào cũng vẹo một bên do gánh nguyên vật liệu làm giấy. Cứ mùng bốn, mùng chín hằng tuần, gánh giấy ra bán tại chợ Cầu, kẻ bán người mua chen chúc, tấp nập.

    Cách đây hơn hai năm, ông Đoán đã sản xuất một mẻ giấy, làm không vì mục đích kinh tế, mà muốn loại giấy dó Yên Thái sẽ được Nhà nước sử dụng làm các giấy tờ quan trọng để lưu giữ lâu dài, nếu được như vậy thì sẽ hồi sinh nghề làm giấy truyền thống của làng nghề và bí kíp làm giấy sẽ được tiếp tục truyền lại cho đời sau.
    Bây giờ, tìm về nơi đây, làng nghề thủ công nổi tiếng một thời chỉ còn trong trí nhớ người già và những di tích lịch sử còn lại như chùa Thiên Niên, đình An Thái, đền Ðồng Cổ... là những minh chứng về giá trị văn hóa của một làng nghề.

    Những sản phẩm gốm Bát Tràng ngày trước

    Làng gốm cổ đất Thăng Long

    Từ trung tâm thủ đô Hà Nội, qua cầu Chương Dương rẽ phải xuôi theo bờ đê sông Hồng khoảng 20km là làng gốm Bát Tràng. Bao đời nay, Bát Tràng nổi tiếng với nghề làm gốm và là một trong những làng nghề truyền thống lâu đời nhất ở kinh đô Thăng Long. Tên làng Bát Tràng được hình thành từ thời hậu Lê, từ sự liên kết giữa năm dòng họ làm gốm nổi tiếng của làng Bồ Bát xứ Thanh là: Trần, Vương, Nguyễn, Lê, Phạm với họ Nguyễn (Nguyễn Ninh Tràng) ở đất Minh Tràng này.

    Khi vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long (năm 1010), một số thợ gốm Bồ Bát cũng di cư ra đây lập nghiệp. Họ đến vùng đất này cùng với họ Nguyễn Ninh Tràng lập lò gốm, gọi là Bạch Thổ phường (phường Đất Trắng). Sau đó hai chữ cuối của hai miền quê được ghép thành Bát Tràng và trở thành một trung tâm gốm nổi tiếng. Các sản phẩm gốm Bát Tràng được triều đình chọn làm cống phẩm cho nhà Minh lúc bấy giờ.
    Từ các thế kỷ trước, gốm Bát Tràng chủ yếu là đồ thờ. Ngày nay gốm Bát Tràng đã có nhiều đồ gia dụng, phổ biến nhất là bát, đĩa, bình, lọ, ấm, chén. Nhiều mặt hàng phong phú về chủng loại và kiểu dáng, bao gồm cả những mặt hàng mỹ nghệ như đĩa treo tường, lọ hoa, con giống, tượng phiên bản và phù điêu với kỹ thuật, công nghệ cao. Các sản phẩm gốm Bát Tràng phổ biến là hình rồng, phượng, câu thơ đối, hoa văn, cảnh người, cảnh hoa, cảnh thiên nhiên... phản ánh đời sống tâm linh và triết lý của người Việt Nam.

    Ông Nguyễn Quốc Bản, năm nay ngoài 80 tuổi, người làng Bát Tràng, cho biết ông là hậu duệ đời thứ năm của dòng họ Nguyễn, nghề gốm của làng được truyền từ đời này sang đời khác. Từng gia đình sản xuất chuyên một sản phẩm, nhà thì làm bát đĩa, nhà làm ấm chén, nhà thì làm lọ, đều được làm thủ công từ đôi bàn tay khéo léo của người thợ. Để có một sản phẩm gốm ra đời phải trải qua nhiều công đoạn, từ nhào nặn đất đến tạo dáng, vẽ hoa văn, nhúng men rồi cho vào lò đốt. Đốt lò tưởng đơn giản nhưng lại là khâu cực kỳ quan trọng, đòi hỏi kinh nghiệm thực tế đúc rút nhiều năm. Ngày trước đốt bằng lò than, nhiệt độ trong lò luôn phải bảo đảm trên 1.200 độ C, đốt gần ba ngày mới đạt yêu cầu. Không may chỉ sơ sẩy mà để quá già hoặc bị sống thì tất cả sản phẩm coi như bỏ đi. Một tháng thường chỉ đốt từ một đến hai chuyến, không may bị hỏng một chuyến thì gần như cả năm đó làm không công. Ngày nay, các sản phẩm gia dụng đều được làm từ khuôn đúc sẵn, đốt bằng ga nên giảm được nhiều công đoạn, độ rủi ro rất thấp. Riêng những sản phẩm gốm mỹ nghệ cao cấp hay hàng giả cổ, hàng đặt theo yêu cầu thì vẫn phải nhờ vào tay nghề bậc cao mới làm được.   

    Giờ đây gốm sứ Bát Tràng đã đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật và kỹ thuật chế tạo. Đồ gốm sứ Bát Tràng nổi tiếng trong cả nước và xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Mỹ và các nước trong khối EU. Nhiều sản phẩm gốm cổ Bát Tràng đang được lưu trữ tại một số viện bảo tàng lớn trên thế giới như Viện bảo tàng Royaux - Bỉ, Viện bảo tàng Guimet - Pháp.

    Nghệ nhân Lê Văn Cam, người làng Bát Tràng, cho biết: Gốm Bát Tràng thể hiện được bản sắc riêng so với các loại gốm khác bởi dáng vẻ thoáng đãng, men màu tự nhiên, phóng khoáng, tạo được độ trong và sâu. Giá trị của đồ gốm phải là “nhất dáng, nhì men”, sau đó mới đến nét khắc, vẽ. Đồ gốm Bát Tràng từ xa xưa đã nổi tiếng về chất men phủ, phổ biến là men màu búp dong, loại men sắc trắng hơi ngả xanh hoặc xám, trong và sâu. Đặc biệt là men lý, men nho, màu gần như màu ngọc thạch, nên được gọi là men ngọc. Độc đáo là men rạn, loại men rất có giá trị. Trải qua bao đời, bí quyết về màu men vẫn được giữ kín và lưu truyền trong các dòng họ ở Bát Tràng. Đã một thời nghề gốm sứ nơi đây có cơ mai một, cả làng chỉ còn vài lò gốm của hợp tác xã với các loại sản phẩm dân dụng đơn giản như: bát, tích, chén, lọ hoa... cấp thấp. Nhưng với lòng yêu nghề và sự miệt mài lao động, tìm tòi sáng tạo, những người con dân Bát Tràng, điển hình như nghệ nhân Ðào Văn Can đã tìm ra bí quyết men mờ, rạn của gốm cổ Việt, các nghệ nhân Lê Văn Vấn, Lê Văn Cam, Nguyễn Văn Khiếu... mỗi người một tìm tòi, phát hiện đóng góp những kiến thức, kinh nghiệm phục chế các nước men Bát Tràng xưa. Nhiều mẫu mã, các loại men truyền thống được những nghệ nhân của làng phục hồi, sản phẩm gốm Bát Tràng nhanh chóng đạt được danh tiếng.
    Những thành quả lao động sáng tạo của lớp nghệ nhân già cùng sức trẻ của Bát Tràng đã làm nên sức sống của một làng nghề truyền thống. Ngày nay, không những duy trì và phát triển mạnh làng nghề, Bát Tràng còn là một điểm du lịch hấp dẫn của Hà Nội.

    Phố Ngũ Xã bây giờ

    Thợ đúc đồng Ngũ Xã

    Làng Ngũ Xã ở bên bờ hồ Trúc Bạch, phía tây Hà Nội. Gọi là làng theo như trước đây chứ Ngũ Xã đã thành phố từ lâu. Không thể tìm thấy ở đây một dấu ấn gì về làng nghề đúc đồng nổi tiếng nhất Việt Nam được nói đến trong dân gian. Thật may mắn, chúng tôi được người dân mấy đời sống ở đây và một nghệ nhân dòng họ Nguyễn kể chuyện về làng nghề cổ truyền gần 500 năm tuổi này.

    Tại quán trà ở gần cổng chùa Thần Quang của Ngũ Xã, ông Nguyễn Xuân Thủy, 65 tuổi, cho biết dòng họ nhà ông nhiều đời  nay sống ở đất này. Làng Ngũ Xã có nghĩa là năm xã hợp lại mà thành, theo sử sách thì vào thời Lê (khoảng 1428 - 1527), dân của năm làng: Đông Mai, Châu Mỹ, Long Thượng, Điện Tiền và Đào Viên thuộc huyện Văn Lâm, Hưng Yên và huyện Thuận Thành, Bắc Ninh bây giờ, có nghề đúc đồng đã về kinh thành Thăng Long để lập trường đúc tiền và đồ thờ. Rồi họ sinh cơ lập nghiệp tại đây, tạo dựng làng mới và lấy tên Ngũ Xã để ghi nhớ về làng quê gốc. Sau đó họ tổ chức thành phường nghề riêng, gọi là phường đúc đồng Ngũ Xã. Đến thế hệ ông Thủy, nghề đúc đồng bắt đầu mai một, những người cùng trang lứa với ông đều biết nghề cả, nhưng vài chục năm trở lại đây nghề này không bảo đảm được cuộc sống. Các xưởng đúc đồng dần dần giải tán, người dân chuyển sang làm nghề khác. Một số người có tay nghề như ông Thủy vào làm việc tại xí nghiệp đúc nhôm, đúc gang của nhà nước rồi về nghỉ hưu. Chẳng mấy ai truyền nghề lại cho con cháu nữa. Giờ đây còn có hai gia đình duy trì nghề đúc đồng gia truyền là gia đình ông Nguyễn Văn Ứng và gia đình bà Ngô Thị Đan.

    Nghệ nhân Nguyễn Văn Ứng tự hào nói, đúc đồng Ngũ Xã phải kể đến đúc tượng và chuông, là những sản phẩm mang tính nghệ thuật độc đáo không đâu sánh bằng. Những bức tượng đồng do người thợ Ngũ Xã đúc đạt độ tinh xảo trên từng đường nét. Nhiều tác phẩm được coi là kiệt tác của nghệ thuật đúc đồng Việt Nam. Điển hình như pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ hiện đang tọa lạc tại đền Quán Thánh được đúc năm 1677 có trọng lượng hơn 3.600kg, cùng với nhiều đồ thờ bằng đồng như lư hương, chân đèn, hạc đồng... được coi là các cổ vật quý giá của quốc gia. Hay pho tượng Phật A Di Đà đặt tại gian chính giữa chùa Thần Quang làng Ngũ Xã hiện nay. Đây là một tác phẩm nghệ thuật kỳ vĩ, độc đáo, rất tinh tế, sống động. Tượng tọa lạc trên một toà sen bằng đồng có 96 cánh, tính cả tượng và đế cao 5m50, chu vi 11,6m, nặng 12,3 tấn. Phải mất bốn năm (từ 1949 đến 1952) các nghệ nhân của dòng họ Nguyễn là Nguyễn Văn Tùng, Nguyễn Phú Hiến, Nguyễn Văn Tiếp mới thực hiện xong. Nét độc đáo của pho tượng này còn được thể hiện ở bí quyết đúc “chém cột nhà”, tức là đúc rỗng liền một khối. “Đó là một kỹ thuật bí truyền của nghề”, ông Ứng nói.

    Chuông do thợ Ngũ Xã đúc thì âm thanh vang, ngân. Đúc chuông cũng kỳ công như đúc tượng. Đúc chuông lại đòi hỏi các phần thân, vai chuông phải có độ dày, mỏng khác nhau. Từ khâu làm khuôn đến pha chế đồng, nấu đồng và rót đồng vào khuôn đều phải tuân thủ một quy trình hết sức nghiêm ngặt. 

    Bên cạnh sự thông minh sáng tạo, đôi mắt nhìn chuẩn xác, bàn tay khéo léo và đức tính cẩn trọng, người thợ còn có bí quyết nghề và kinh nghiệm từ lâu đời. Bí quyết đúc đồng Ngũ Xã tục truyền là ở các khâu làm khuôn, nấu đồng, rót đồng thành sản phẩm. Họ thường cân đo lượng đồng bằng mắt, bằng tay, không có máy móc nào trợ giúp.
    Ông Ứng có ba người con trai, cả ba đều được ông truyền lại nghề tổ từ khi còn nhỏ. Đến nay các con ông đều có thể đảm đương được việc đúc các pho tượng có kích thước lớn và đòi hỏi sự tinh xảo cao. Ông có một xưởng đúc đồng với khoảng 20 người thợ, đều là con cháu trong dòng tộc. Công việc tiến triển khá thuận lợi, hàng ngày có nhiều khách đến đặt hàng. Vài năm gần đây, nhiều khách nước ngoài như Mỹ, Ấn Độ, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc... đến tham quan và đặt mua các sản phẩm đúc đồng tại xưởng của gia đình ông Ứng.

    Phố Hàng Bạc - nơi thợ vàng Định Công lập nghiệp

    Thợ chạm vàng Định Công

    Làng Định Công thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội. Người ta vẫn thường gọi là Định Công kim hoàn, tên làng đã mách bảo về nghề chạm vàng bạc nổi tiếng.

    Nghề kim hoàn ở Việt Nam khá phát triển vào các thời Lý, Trần, Lê. Thế kỷ XVII - XVIII, ở vùng châu thổ sông Hồng xuất hiện một số làng nghề nổi tiếng. Mỗi làng sáng tạo một kỹ thuật chế tác. Thợ Châu Khê (Hải Dương) chủ yếu chạm vàng. Thợ  Đồng Xâm (Thái Bình) chủ yếu chạm bạc. Thợ Định Công làm cả vàng lẫn bạc với kỹ thuật đạt tới độ tinh xảo. Người làng Định Công chỉ cần nhìn các sản phẩm đã qua chế tác là có thể biết đó có phải do thợ làng mình làm hay không. Các dòng họ làm nghề kim hoàn ở Định Công nổi tiếng từ bao đời nay gồm có họ Quách, họ Nguyễn, họ Phạm.
    Xưa kia, một số thợ giỏi làng Định Công đến Thăng Long cùng với những thợ vàng bạc của các làng nghề khác quy tụ thành phường, lập nên phố Hàng Bạc bây giờ. Trong đó chủ yếu là người họ Nguyễn, họ Phạm ở xóm Giữa ra phố Hàng Bạc lập cửa hiệu. Trải qua nhiều năm tháng, dần dần trong làng chẳng còn mấy ai làm nghề nữa mà tập trung lên phố để kiếm sống. Phố Hàng Bạc thành quê thứ hai của người làng. Ở Định Công chỉ còn vài người làm nghề truyền thống có kỹ thuật và bài bản, tập trung vào gia đình các ông Quách Văn Luyến, Quách Văn Trường.

    Anh Nguyễn Anh Đức, 38 tuổi, làm nghề tại số 83 Hàng Bạc, cho biết anh là đời thứ năm làm nghề kim hoàn tại chính cửa hiệu này. Quê gốc của anh ở làng Định Công. Anh được nghe người già kể lại, hàng vàng bạc của Định Công trước đây rất phong phú, gồm các loại bướm bạc cài cúc áo cho người Tày, người Thái ở vùng đông bắc và tây bắc;  hoa tai, lắc bạc, kiềng, bướm đậu... đồ trang sức cho phụ nữ. Rồi câu chuyện về những nghệ nhân của làng với đôi bàn tay chế tác cực kỳ khéo léo như cụ Ba Khuôn làm xà tích, ống vôi, vòng kiềng, nhẫn, xuyến, hoa tai rất đẹp; cụ cả Hưng, cụ Bảng được vời vào Huế  làm đồ trang sức cho vua và hoàng tộc. Cụ Hưng, cụ Bảng được tặng cửu phẩm văn giai.

    Anh Đức được ông nội và cha truyền nghề từ nhỏ. Vừa làm việc anh vừa giải thích: Muốn làm được các sản phẩm vàng bạc tinh xảo đòi hỏi người thợ phải giỏi ba khâu kỹ thuật cơ bản nhất của nghề là chạm, đậu và trơn. Chạm tức là chạm trổ các hình vẽ, hoa văn, hoạ tiết trên mặt sản phẩm. Đậu là kéo vàng bạc đã nung chảy thành những sợi chỉ vàng, bạc rồi từ những sợi chỉ này chuyển thành hình hoa lá, chim muông gắn vào đồ trang sức. Trơn tức là làm những đồ vàng bạc không cần chạm trổ mà chỉ cườm cho nhẵn, bóng, trơn.

    Làng Định Công giờ đã thành phường, tập trung nhiều khu chung cư cao tầng. Nghệ nhân của làng là ông Quách Văn Luyến, nay đã gần 80 tuổi, có xưởng chế tác tại nhà. Gia đình ông cả ba thế hệ đang sống dưới một mái nhà và đều làm nghề. Hơn chục người gồm con trai, con dâu, con gái và cháu nội đều là những tay thợ kim hoàn giỏi. Người con cả Quách Văn Hiểu được tặng giải nhất (huy chương vàng) tại Triển lãm Mỹ thuật ứng dụng toàn quốc 2004 với sản phẩm Hộp tú cầu hoa đậu bạc. Quách Tuấn Tú, con trai anh Hiểu, sinh năm 1976, tinh thông mọi việc, tạo được nhiều mẫu mã mới hợp thị hiếu người tiêu dùng. Một nghệ nhân khác ở Định Công là ông Quách Văn Trường, sinh năm 1942, là người có tiếng giỏi về kỹ năng đậu vàng bạc. Năm 1983, sau khi Hợp tác xã Mỹ nghệ địa phương giải thể, ông cùng các con tổ chức sản xuất tại nhà. Ông có đôi bàn tay tài hoa, khéo léo tới độ khách hàng có nhu cầu, chỉ cần nêu ý tưởng là ông thiết kế và chế tác ra ngay thành phẩm. Những mặt hàng ông làm đạt độ tinh xảo cao và chuyên bán cho khách nước ngoài.

    Ông Trường nói, thanh niên địa phương học hết lớp 12 không vào được đại học và trung học chuyên nghiệp, nếu có nhu cầu sẽ được ông đào tạo nghề kim hoàn. Ông Phạm Quang Chỉnh, 76 tuổi, sinh ra trong gia đình mấy đời làm nghề truyền thống, có cùng ý tưởng này. Ông nói: “Nghề kim hoàn bị gián đoạn hơn 30 năm. Trong thời gian đó, có bao thợ giỏi đã mất đi. Một thế hệ không được truyền nghề theo kiểu cha truyền con nối”. Ông tình nguyện dạy nghề miễn phí cho lớp trẻ, hy vọng làng nghề sẽ được khôi phục.  

    st

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Diễm My @ 06:47 17/07/2010
    Số lượt xem: 242
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Thông tin các thành viên

    174201210152147
    Đ
    i
    T
    ì
    m
    T
    r
    i
    T
    h
    c

    Sinh nhật thành viên và Web nhóm MAE