Hân hạnh đón tiếp

0 khách và 0 thành viên

MỜI BẠN DÙNG TRÀ

Hôm nay là....

12_01

Lick cho ăn dùm nha!

Ảnh ngẫu nhiên

GUI_NGUOI_TOI_YEU2.swf 270.jpg Picture3.jpg Picture2.jpg Picture1.jpg Picture1_500_06.jpg Bai_thi_so_1__lop_3.flv Bai_thi_so_2_lop_2.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_thi_so_1_lop_2.flv Bai_lam_so_1.flv Vochanh3.jpg D3.jpg D2.jpg Deu.jpg Chanh.jpg Son_dau.jpg Sd.jpg 0.jpg

Tự soi tâm mỗi sáng

1. Nhịn đời để tấm thân yên- 2. Nhịn sự hơn thua khỏi luỵ phiền- 3. Nhịn kẻ hung hăn lòng độ lượng- 4. Nhịn tâm háo thắng cõi thần tiên- 5. Nhịn cha nhịn mẹ con hiếu thảo- 6. Nhịn vợ nhịn chồng gia đình ấm- 7. Nhịn anh nhịn chị ,thêm hoà thuận - 8. Nhịn xóm láng giềng nghĩa thân giao.

Tài nguyên dạy học

Góc riêng

Quà của thâỳ Hùng

Quốc hoa

Kỉ niệm bạn tặng

Sống

Qùa thâỳ Th. Dương

TUỔI THƠ

picture1

Giải trí

Đồng hồ trái đất

Thời gian trôi

ĐỒNG HỒ HOA SEN

Chị Vân tặng

Msmyen

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Vọc

    LỊCH

    Gốc > Quê hương (Bài viết) > Trung >

    Mù xa Pa Ngay

         
         
     
         
         
     

        Nơi “sơn cùng thủy tận” của dãy Trường Sơn, giáp biên giới Việt - Lào có một bản làng của đồng bào Vân Kiều nằm cheo leo, vắt vẻo như tấm thảm giữa đại ngàn. Hàng trăm năm qua, những con người bình dị nơi đây đã viết nên những câu chuyện huyền thoại, được lưu truyền qua bao thế hệ. Miền đất mù xa Pa Ngay kỳ bí như lời mời gọi, giục giã người thích mạo hiểm khám phá vùng biên cương Tổ quốc.

         Thiên tai, địch họa, những biến động của lịch sử diễn ra hàng thế kỷ trước, nhiều nhóm người thuộc dân tộc Bru ở vùng Trung Lào đã có những cuộc di cư đi các nơi. Họ theo hướng tây bắc sang Thái Lan, một số theo hướng đông tụ cư tại vùng miền núi phía tây các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế của Việt Nam. Họ dựng làng xung quanh hòn núi Vân Kiều (còn gọi Viên Kiều) nên về sau họ được gọi là Bru - Vân Kiều. Trong cuộc chinh phục miền đất mới, người Pa Ngay là một bộ phận như thế.


    Ngôi làng lọt thỏm giữa đại ngàn


    ĐƯỜNG ĐI TRÊN ĐÁ
        
    Từ thành phố Đông Hà (Quảng Trị), chúng tôi ngược hơn 100km đường đèo đến xã Tà Long, huyện Đakrông. Để vào Pa Ngay phải mất cả ngày đường đi bộ, băng qua những khu rừng rậm rạp và leo trèo... trên đá. Rút kinh nghiệm những chuyến đi thất bại trước, chúng tôi chuẩn bị đầy đủ giấy tờ tùy thân, nước uống và nhang, dầu chống vắt, muỗi, rắn cắn...


    đường vào Pa Ngay đi trên đá

         Tưởng đã yên tâm, nào ngờ một vấn đề nan giải mà ngay cả Chủ tịch xã Tà Long - ông Hồ Văn Côi cũng bó tay: không ai dám dẫn đường! Hàng chục năm trôi qua, người vào Pa Ngay chỉ đếm trên đầu ngón tay, mỗi lần có việc “đặc biệt quan trọng”, người ta mới cắt cử những thanh niên trai tráng băng rừng vượt suối đi vào. Người Pa Ngay sống gần như tách biệt với thế giới bên ngoài, tự cung tự cấp là chính. Đường đi là nỗi ám ảnh với bất cứ ai có ý định tìm đến. Ngoài rắn rít, vắt, muỗi còn những cơn lũ rừng kinh hoàng chợt ùa về cuốn phăng tất cả những gì trên đường đi của nó.

               Nài nỉ mãi, cuối cùng chúng tôi cũng được dân bản chỉ đến nhà Hồ Luôm, một thanh niên lực lưỡng được mệnh danh “gấu rừng”. Nhìn chàng trai thấp đậm, chắc nùi nụi, khuôn mặt lầm lỳ chẳng ai nghĩ năm nay Hồ Luôm mới 23 tuổi. Sau khi nghe nguyện vọng của chúng tôi, anh cười bảo: “Chưa đến mùa mưa nên không sợ con lũ rừng. Mình chỉ lo hai ông có đủ sức leo đá dọc suối không thôi, trơn trượt và nguy hiểm lắm!”.

              Chúng tôi lên đường khi mặt trời lấp ló sau rặng lồ ô. Mới sáng sớm nhưng cái nắng gió miền biên giới Việt - Lào nóng rát, hanh khô đến khó chịu. Vào Pa Ngay không có con đường nào khác là đi theo mép sông rồi băng qua những khu rừng nguyên sinh rậm rạp của dãy Trường Sơn. Được một chặng, tôi hỏi Hồ Luôm: “Vì sao ngày trước họ lại vào sống mãi trong cùng cốc này làm gì cho khổ?”. Anh trả lời: “Mình không nhớ nữa, đời cố, đời ông mình đã thấy người Pa Ngay dựng nhà, lập thôn rồi. Họ cũng người Vân Kiều như mình, nhưng đời sống còn khó khăn lắm, cái bụng không được ăn no, cái áo không có mặc cho ấm”.

    Từ dòng sông Đakrông hùng vĩ, chúng tôi vượt khoảng 20km thấy một dòng suối trong mát chảy ra từ cánh rừng tả ngạn. Hồ Luôm chỉ tay bảo: “Suối Pa Ngay đấy! Ngày trước mình nghe già làng nói người Pa Ngay đi theo suối này, ba ngày ba đêm thì tới nơi ở. Để nhớ ngày đi, họ đặt tên là Ba Ngày, tiếng Vân Kiều đọc chệch là Pa Ngay. Từ đó cái tên ấy có tận đến giờ”.

    Đã đi nhiều nơi, khám phá nhiều vùng đất kỳ vĩ, chúng tôi vẫn bị mê hoặc bởi vẻ đẹp của khung cảnh hai bên bờ suối. Những rừng lồ ô chạy dài tít tắp, uốn lượn như bức tranh thủy mặc. Càng vào sâu, không khí lạnh của núi rừng càng làm cho người ta cảm giác khoan khoái, dễ chịu. Những cây cổ thụ cao chót vót, thân to đến mấy người ôm, chim muông hót kêu không dứt.

    Đang mải mê tận hưởng, chợt Hồ Luôm cảnh báo: “Sắp tới khu vực đá ngầm rồi, khó đi lắm! Cái chân bám không chắc như con rết, con nhông là trượt té liền. Đưa ba lô đây cầm cho”. Anh bạn tôi nấn ná “mình còn khỏe lắm, không sao đâu”, nhưng Hồ Luôm nhất định không chịu. Nhìn sự quả quyết của anh, tôi biết chẳng phải chuyện đùa.


    Ngôi nhà sàn cao của người Pa Ngay


    Hồ Luôm bước qua những hòn đá nhẹ nhàng như con sóc rừng, đi mà không cần nhìn. Dù đã đưa hết đồ đạc cho anh, tôi và người bạn vẫn ỳ ạch, rón rén bám từng tảng đá như đứa trẻ tập đi. Quả là “nước chảy đá mòn”, những tảng đá bên suối trơn bóng, chỉ cần sơ sẩy một chút là trượt chân rơi ùm xuống suối.

    ĐÊM ĐẠI NGÀN
    Mặt trời xuống núi, chúng tôi vẫn mò mẫm trong rừng sâu. Tiếng côn trùng, chim, thú nghe đến nao lòng. Không khí nơi đại ngàn lạnh lẽo, ánh đèn pin quét qua những lùm cây ướt đẫm sương. Chúng tôi bám lấy Hồ Luôm như đứa trẻ sợ lạc đường. Lẳng lặng bước đi, tôi nghe hơi thở gấp gáp, sợ hãi của người bạn. Có lẽ đây là lần thực tế nhớ đời nhất của nghiệp làm báo.

    Cây lá ẩm ướt, lũ vắt, mòng thi nhau búng lên như trấu. Những chai dầu mang đi để phòng chống loài sinh vật nhỏ bé mà dữ tợn này được đổ ra xoa khắp chân tay, mặt mũi. Nhìn vẻ lo âu của chúng tôi, Luôm trấn an: “Có mình đây không lo gì đâu. Đi nhiều rồi sẽ quen thôi. Cái gan mình to, không con thú nào dọa nạt được”. Mọi niềm tin chúng tôi đặt cả vào “con gấu rừng”. Bây giờ tôi mới hiểu vì sao những người Bru - Vân Kiều ngoài trung tâm xã Tà Long lại lắc đầu nguầy nguậy khi được nhờ dẫn đường. Chợt anh bạn giật bắn lên như giẫm phải lửa, Luôm vội quét đèn pin qua, một con trăn “mắc võng” dài cả chục mét nằm chắn lối đi. Luôm tắt đèn rồi bảo chúng tôi im lặng bò qua. Mồ hôi vã ra như tắm, chảy xuống mắt, miệng cay xè, mặn chát. Lúc này tôi chỉ ước một điều: đến được làng của người Pa Ngay càng sớm càng tốt.

    Ba tiếng đồng hồ bì bõm trong rừng sâu với bao hiểm nguy rình rập, cuối cùng chúng tôi cũng tới được “tấm thảm” nơi đại ngàn Trường Sơn. Không gì có thể diễn tả được niềm vui lúc ấy. Phía xa, những ngôi nhà sàn bập bùng ánh lửa, tiếng đàn Pơ - kua nghe ấm áp, giục giã. Chưa kịp đặt chân lên nhà, Luôm cất tiếng gọi lớn: “Già ơi, bản mình ơi ra đón khách dưới xuôi lên thăm này”. Âm thanh vang vọng giữa đêm khuya, những mái đầu thập thò bên cửa, trẻ con lấm lét nhìn khách lạ. Trong ánh sáng hắt hiu, tôi đoán ông già thấp đậm, thân hình rắn chắc như cây gỗ lim đang ngồi giữa nhà là già làng. Đã lâu lắm rồi, Pa Ngay mới có những vị khách từ ngoài vào thăm.

    Bếp lửa được chất thêm củi, cháy bập bùng, xua tan cái lạnh vùng biên. Nhìn chúng tôi với ánh mắt trìu mến, già làng Pả Hương lên tiếng: “Các con dưới xuôi lặn lội lên đây thăm bản, bố và bà con vui cái bụng lắm. Đường toàn đá nhọn, thác ghềnh khó đi nên người ngoài cũng ít vào. Đã tới đây thì ở chơi với bố dăm hôm rồi về, bản nghèo không có gì, chỉ có lòng hiếu khách thôi”. Nói xong già sai người lấy rượu, nướng ít thịt rừng và bảo chúng tôi quây tròn lại.


    Tác giả (thứ tư từ trái qua) trong bữa cơm thân mật với đồng bào


    Trước khi uống rượu, già bảo: “Nói cái này các con đừng để bụng, nhưng đó là luật lệ. Ai lên đây, dù già hay trẻ đều phải cho làng xem giấy tờ. Ở vùng biên có nhiều chuyện nhạy cảm lắm”. Chúng tôi hiểu, vội lục giấy đi đường, chứng minh thư ra trình. Già xem một lượt rồi đưa cho anh trưởng thôn Pả Vũ xem lại. Xong xuôi, già gật gật cái đầu tỏ ý hài lòng: “Đây là lần đầu tiên Pa Ngay vinh dự được đón những nhà báo cách mạng. Bố và bản làng vui lắm, mời các con chén rượu này”.
    Men rượu nếp ấm nồng, phút chốc những mệt mỏi, gian khổ tan biến trong tôi. Người Pa Ngay chân chất, thật thà đến cảm động. Cái bụng không biết lừa dối, sống ngay thẳng, hiên ngang như cây pơ mu, cây táu giữa rừng già. Trong men rượu ngất ngây, tiếng đàn Pơ - kua âm vang, thánh thót, những huyền thoại được già làng Pả Hương kể lại...

    HUYỀN THOẠI RỪNG XANH
    Từ núi cao Trường Sơn, họ xuôi thượng nguồn sông Đakrông đi ròng rã năm ngày năm đêm vẫn chưa tìm được vùng đất ưng ý. Khi cái chân đã mỏi, cái gối đã chùng, lương thực sắp cạn thì họ phát hiện một dòng suối trong vắt từ rừng sâu chảy ra, hòa vào dòng Đakrông hùng vĩ. Theo dòng suối, họ đi hơn một ngày đường nữa thì tới một vùng đất khá bằng phẳng, xung quanh chim hót líu lo, nước chảy rì rầm. Họ quyết định dừng chân, lập bản làng. Chốn “sơn cùng thủy tận” này được họ gọi là “đất mẹ”, nơi nuôi dưỡng những người con Bru - Vân Kiều dũng mãnh.

    Xung quanh trùng điệp núi rừng, họ cúng thần sông, thần núi rồi chặt cây dựng nhà. Những ngôi nhà sàn cao ở Pa Ngay bây giờ là dấu tích của cả trăm năm về trước, khi vùng đất này luôn phải đối phó với thú dữ, ẩm thấp, lũ rừng. Nguồn thức ăn chủ yếu do săn bắt, hái lượm, phát rẫy trồng bắp.

    Câu chuyện về những anh hùng Pa Ngay chiến đấu với thú dữ được lưu truyền từ đời này qua đời khác. Kể về quá khứ, ánh mắt già làng Pả Hương ánh lên vẻ tự hào xen lẫn bi hùng, xót xa. Trong cuộc chiến sinh tồn, chết chóc là điều khó tránh. Đôi mắt xa xăm, giọng già thoảng nhẹ như gió: “Từ thời ông cố nội bố, những câu chuyện này đã kể qua bao đời con cháu, đến thời bố thì mai một, quên đi ít nhiều. Người Vân Kiều mình không có cái chữ, chỉ truyền miệng thôi, kể nghe rồi nhưng cái bụng hay quên”. Trong những câu chuyện huyền bí, thực hư ấy, có chuyện mỗi khi nhắc lại, người nghe nổi da gà, sởn gáy vì khiếp sợ.

    Ấy là vào những năm đầu khi người Pa Ngay mới thành lập bản, xung quanh núi rừng hoang vu rậm rạp, thú dữ hay về quậy phá dân làng. Có một con cọp to như con trâu, chuyên về làng rình bắt trẻ em, dê bò ăn thịt. Không chịu ngồi nhìn cảnh đó, một chàng trai Pa Ngay mật phục hòng giết bằng được con cọp dữ. Canh chừng ba ngày ba đêm không thấy cọp xuất hiện, khi sức đã mệt, chuẩn bị đi ngủ thì thấy chúa sơn lâm lừng lững tiến về phía con bò làm mồi nhử. Chàng trai giương cung bắn liền mấy phát, con cọp rống lên đau đớn nhưng ngay tức khắc dùng hàm răng sắc nhọn cắn đứt mũi tên rồi lao về phía chàng trai. Hổ và người quần nhau ròng rã suốt đêm, tan hoang cả vạt rừng. Cuối cùng bằng sức mạnh, võ nghệ cao cường, chàng đã kết liễu cọp tinh bằng nhát kiếm trí mạng. Người dân hò reo vang rừng ra khiêng cọp về ăn mừng, còn chàng trai được “ngự” trên một chiếc cáng có bốn người khiêng, oai phong lẫm liệt. Sau này chàng trai chết, người Pa Ngay lập miếu thờ, dấu tích ấy còn đến bây giờ.

    Rồi chuyện trăn tinh đánh nhau với người trên đỉnh Trường Sơn. Một ngày mưa gió có chàng trai vào rừng sâu săn bắn, sau nửa ngày kiếm tìm bắn được một con nai lạc bầy. Hạ nó xong, chàng vui mừng chạy đến định vác về. Bất ngờ từ rừng rậm, một bóng đen to lớn, dài loằng ngoằng lao ra. Chàng hoảng hồn, kịp định thần nhận ra đó là một con trăn khổng lồ đã thành tinh - con vật mà những người đi rừng luôn ám ảnh, khiếp sợ. Trăn và người quần thảo đến khi trăng lên vẫn chưa phân thắng bại. Cuối cùng, khi ôm ghì đầu con vật xuống, chàng trai bất ngờ phát hiện ra “sợi chỉ”, một điểm yếu huyệt dưới yết hầu. Chàng trai cắn phập vào chỗ đó khiến con vật phát ra tiếng kêu ghê rợn, máu nóng bắn tung tóe, phun cả vào mặt, miệng người hạ thủ nó. Vì kiệt sức, chàng trai cũng ngất đi. Quá trưa hôm sau, dân bản đi lấy nước mới phát hiện đưa về. Sau này, do uống được máu nóng trăn tinh nên chàng trai có sức mạnh phi thường, một mình vác được cái cột nhà sàn đến mấy người khiêng.



    Những phần thưởng cao quý dành cho già làng Pả Hương


    Những câu chuyện kỳ bí ấy lâu lâu được già làng Pả Hương kể lại cho con cháu nghe để ghi nhớ công ơn những người con Pa Ngay đã dũng cảm chống lại thú rừng hung dữ, bảo vệ buôn làng. Men rượu nếp ngất ngây, đêm nay bếp lửa của người Pa Ngay đỏ hơn, ánh lửa bập bùng chiếu sáng cả vạt rừng. Chúng tôi thiếp đi lúc nào không hay, hình ảnh về miền đất mù xa choáng ngợp cả giấc mơ.

    RỪNG MA CỦA NGƯỜI PA NGAY
    Cũng như những bản làng của người Bru - Vân Kiều trên dãy Trường Sơn, người Pa Ngay có tục chôn cất rất kỳ lạ. Họ quan niệm sau khi chết, người bên kia thế giới cũng có cuộc sống riêng, không được quấy rầy, nếu phạm luật sẽ bị trừng phạt. Vì vậy những cánh rừng ma là “bất khả xâm phạm”.

    Theo tục lệ, người chết sẽ được dân bản tổ chức lễ cúng “từ biệt linh hồn”, xin thần rừng cho phép đưa xác vào chôn. Huyệt mộ được đào rất nông, chỉ đủ lấp chiếc hòm, ngôi mộ được đánh dấu bằng một hòn đá. Chôn xong, mọi người tất tả chạy thật nhanh, không ngoái đầu nhìn lại, sợ con ma rừng theo về nhà gây ốm đau cho gia đình, bản làng. Một lần vào chôn là không quay lại, trừ khi có người chết mới được già làng xin phép ma rừng “mở cửa” vào chôn người.

    Trải qua thời gian, những ngôi mộ bị mưa gió, thú rừng tàn phá, đôi lúc xác người bị tha đi mất. Biết thế nhưng người Pa Ngay không dám phá bỏ luật tục vì sợ bị trừng phạt.

    Tôi đánh bạo tới nhà già làng thuyết phục được vào rừng ma. Mới nghe mặt già hơi biến sắc, rồi thầm thì nói: “Rừng ma là nơi cấm kỵ, nếu không có việc quan trọng thì không được vào. Nhưng bố coi mấy đứa như con cháu nên bố sẽ làm lễ xin ma gác cổng cho”. Nói xong già sai người thắp hương, lầm rầm khấn vái, xong đâu đấy cho người dẫn đường vào.

    Những ngôi mộ qua hàng trăm năm giờ mọi dấu vết bị xóa mờ. Nhưng theo Pả Thia - người dẫn đường thì linh hồn người chết vẫn lẩn quất, trú ngụ đâu đấy trong hốc cây, hòn đá vô tri vô giác kia. Chính vì “bất khả xâm phạm” nên cánh rừng ma nào cũng tươi tốt, cây cổ thụ to mấy người ôm, quanh năm âm u, lạnh lẽo đến ghê người. Pả Thia kể: “Ngày trước có người phá lệ vào rừng này chặt cây về làm nhà. Dựng xong thì nhà cháy, người ấy cũng bị điên rồi đi mất tích vào rừng sâu, chết sống ra sao không ai biết nữa”.

    Tôi bám chân Pả Thia không rời nửa bước, người bạn đi cùng cũng tỏ vẻ căng thẳng, bước từng bước thận trọng, nhẹ nhàng. Để ma không bị đói rét về quấy phá dân làng, người Pa Ngay lập những cái am ngoài bìa rừng, trong đó bỏ bát đũa, quần áo và vật dụng sinh hoạt. Mỗi khi có cúng tế, lễ hội, họ lại đưa thức ăn, rượu thịt bỏ vào am rồi chạy thật nhanh, không ngoái đầu lại. Đến nay luật tục ấy vẫn tồn tại.

    NHỮNG NGỌN ĐUỐC ĐẠI NGÀN
    Năm nay già làng Pả Hương đã bước sang tuổi “xưa nay hiếm” nhưng nhìn vẫn cường tráng, rắn chắc như chàng lực điền. Những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông là lính bộ đội Cụ Hồ, tham gia những trận đánh lịch sử như chiến dịch đường 9 Nam Lào, làng Vây - Khe Sanh. Người con Pa Ngay đã làm rạng rỡ cho bản làng, được Đảng và Nhà nước tặng nhiều huân huy chương bởi những chiến công xuất sắc. Chiến tranh qua đi, người con trung kiên ấy lại trở về phục vụ quê hương. Những năm đầu với bao khó khăn, thiếu thốn, vị Chủ tịch xã Tà Long - lúc ấy là già Pả Hương phải lội ruộng cày cấy với bà con, tăng gia sản xuất. Mỗi lần nấu ăn, ông bớt một ít gạo bỏ vào lu để dành cứu đói cho bản làng nào đói rét nhất xã.

    Trong tâm thức của người Bru - Vân Kiều, người đàn ông ấy sừng sững như cây cổ thụ giữa đại ngàn. Cả tuổi thanh xuân ông cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, về già lại đau đáu nỗi lo cái ăn, cái mặc cho bà con, bám đất bám bản giữ bình yên miền biên cương Tổ quốc. Trân trọng 55 năm tuổi Đảng của già Pả Hương, Chủ tịch xã Tà Long - Hồ Văn Côi xem già như người cha của mình, là tấm gương sáng cho cán bộ, đảng viên lớp trẻ noi theo: “Cả đời cống hiến cho đất nước, sống để lo cho người khác nên trong cái bụng người Vân Kiều, già Pả Hương được kính trọng như giàng vậy”.


    “Ôtô” của trẻ em Pa Ngay


    Dẫn chúng tôi đi quanh bản, ánh mắt già ánh lên niềm vui khi nhìn thấy những đứa trẻ đang say sưa học bài. Già bảo: “Không có tri thức, không có con chữ thì nghèo đói, lạc hậu mãi. Đời bố đã khổ rồi, nhưng đời con cháu nhất định phải sung sướng. Mà muốn được như vậy thì phải học”.

    Trước năm 1995, trừ già Pả Hương, trong bản Pa Ngay không ai biết chữ, mỗi lần chứng nhận gì phải điểm chỉ khiến già đau lòng lắm. Bao đêm trăn trở, phải làm gì để con chữ đến được vùng đất này, thế rồi một mình già lặn lội ra trung tâm xã đề xuất lãnh đạo “xin chữ” cho dân. Biết tâm nguyện của già, nhiều thầy giáo trẻ xung phong “vác” chữ vượt đại ngàn.

    Vùng đất mù xa, nhiều người dưới xuôi mới nghe đến cái tên “Pa Ngay” đã nổi da gà. Đường đi trên đá tai mèo, núi cao vực thẳm, thú dữ trở thành nỗi ám ảnh cho họ. Lần đầu tiên vào Pa Ngay đối với thầy Hồ Văn Đằng là kỷ niệm không bao giờ quên.


    Những đứa trẻ này rồi đây sẽ giúp Pa Ngay thoát đói nghèo


    Là chàng trai trẻ đồng bằng, chưa một lần đặt chân lên miền núi hiểm trở, cái chân bước trên đá chưa quen nên trượt ngã liên tục. Khi vào được bản, mặt trăng đã lên ngọn lồ ô tự lúc nào. Nhưng khó khăn và kinh khủng nhất là sốt rét, đau ốm. Do chưa quen nước, thiếu thốn về ăn uống, “người cõng chữ” sốt rét liên miên, nằm mê man bất tỉnh. Dân bản chạy ngược chạy xuôi lo lắng cho thầy, nhưng cơn sốt rét rừng không có dấu hiệu thuyên giảm. Đến ngày thứ ba, già Pả Hương họp mặt dân làng, quyết định cáng thầy xuống trạm xá xã. Người đốt đuốc dẫn đường, người cáng thầy tất tả vượt bóng đêm. Dân bản Pa Ngay đi đi về về chăm sóc thầy như con của mình. Rồi thầy cũng bình phục, lại khăn khói vội vàng trở vào dạy chữ cho con em của bản. “Cái bụng người Pa Ngay tốt lắm, tốt đến nỗi mình không dám ốm nữa. Lỡ có gì là cả bản mất ăn mất ngủ lo cho mình. Bây giờ thì mình khỏe như vâm”. Đã bao mùa trăng trôi qua, thầy giáo trẻ ngày ấy giờ đã ngoài 30 tuổi. Hỏi khi nào có ý định về xuôi, anh nói ngay: “Mình chưa về được đâu, các em còn thua kém các bạn dưới xuôi nhiều lắm. Mong Pa Ngay nhận được những hỗ trợ về giáo dục từ bên ngoài để các em có điều kiện học hành tốt hơn”.


    Trường học của trẻ em Pa Ngay


    Với bao khó khăn, thiếu thốn, nỗi nhớ gia đình, người yêu da diết nhưng thầy giáo Hồ Văn Đằng vẫn bám trụ mảnh đất Pa Ngay để gieo chữ, trồng người. Hàng ngày từ lớp học lợp bằng tre nứa cuối bản, tiếng đọc bài của lũ trẻ vẫn vang lên đều đặn, chăm chỉ. Người Pa Ngay đang dần thoát đói nghèo, lạc hậu bởi những thế hệ mai sau.


    Thầy Hồ Văn Đằng hàng ngày miệt mài dạy chữ cho các em


    BẢO VỆ MIỀN BIÊN CƯƠNG
    “Tấc đất tấc vàng”, bao đời nay người Pa Ngay vẫn ghi nhớ lời dặn của cha ông, của các chiến sĩ Biên phòng đồn 621 - Sa Trầm thuộc Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh Quảng Trị. Từ Pa Ngay qua nước bạn Lào chưa đầy 2km, người dân hai bên vẫn đi lại trao đổi hàng hóa, có khi dựng vợ gả chồng “ngoại” nữa. Lên Pa Ngay, chúng tôi được nghe nhiều câu chuyện về tình yêu vượt biên giới của họ. Chàng là người Việt, nàng là người Lào, quen biết nhau trong một lần đi Sim, thế rồi họ yêu nhau. Nhưng chẳng ai biết thủ tục phải làm thế nào, giấy tờ ra sao? Các cặp vợ chồng cứ đưa nhau về bản sống trước, còn pháp lý thì khi nào có điều kiện ra xã làm sau. Tuy là hai quốc gia nhưng mang nặng tình nghĩa láng giềng, người dân hai bên vùng biên rất đoàn kết, gắn bó, có lễ hội gì già làng bản này đều cho người qua mời bên kia như anh em trong nhà vậy.

    Với các cán bộ, chiến sĩ Biên phòng đồn 621, Pa Ngay giống như ngôi nhà thứ hai của họ, mỗi lúc đi ngang đều ghé thăm dân, khám chữa bệnh, giúp đỡ họ xây dựng nhà cửa, làm nương vườn. Cũng chính vì thế mà bản làng Pa Ngay luôn coi các anh bộ đội biên phòng như con em trong gia đình, có miếng khoai, củ mài đều đưa ra mời, chia sẻ ly rượu nếp rừng sâu. Quân dân trên dưới một lòng nên đã bao lần kẻ xấu xúi giục đồng bào bỏ đất ông cha theo chúng nhưng đều thất bại. Bao năm qua, dù nơi biên ải khó khăn, thiếu thốn nhưng chuyện trộm cắp, buôn bán ma túy hay các tệ nạn khác không xảy ra. Già Pả Hương tự hào nói: “Dân làng bố trên dưới một lòng nghe Đảng, nghe những điều Bác dạy, tuyệt đối không làm chuyện sai trái để khỏi hổ thẹn với lương tâm”. Chính vì vậy mà người dân Pa Ngay, đại diện là già làng Pả Hương, liên tục được nhận giấy khen của Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh Quảng Trị về “thành tích trong phối hợp với bộ đội biên phòng bảo vệ an ninh biên giới, giữ gìn trật tự an toàn xã hội”.

    Trải qua hàng thế kỷ với bao biến cố khắc nghiệt nhưng người dân Pa Ngay vẫn bám đất, bám rừng giữ bình yên cho miền biên cương Tổ quốc. Năm tháng qua đi, những câu chuyện huyền thoại giữa đại ngàn lại được viết tiếp bởi những con người bình dị, hiên ngang. Tạm biệt Pa Ngay, chúng tôi mang trong lòng sự cảm phục và niềm tin một ngày không xa sự đổi thay, phát triển vững mạnh nơi vùng đất này.

     
       
     
      TRIỀU DƯƠNG

    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Diễm My @ 08:29 30/05/2010
    Số lượt xem: 202
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Thông tin các thành viên

    174201210152147
    Đ
    i
    T
    ì
    m
    T
    r
    i
    T
    h
    c

    Sinh nhật thành viên và Web nhóm MAE